Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2018


 

KHI THƠ DỞ LÊN NGÔI

+ Thơ giải B của Nguyễn Việt Chiến


 ( Báo động về một cuộc thi thơ giết thơ )
 Trần Mạnh Hảo




Đại ca Trần Mạnh Hảo với bộ ria sợ vợ


Chủ nhật bọ định nghỉ ngơi vui vẻ thì đại ca Trần Mạnh Hảo gọi điện đến, nói chú mày post bài của anh lên để bà con bàn luận cho vui. Hỏi bài gì, anh nói bài về cuộc thi thơ VNQĐ. Nói thật từ lâu lắm rồi bọ không còn quan tâm đến các loại giải thưởng nữa, được cũng chả vui, trật cũng chả buồn. Cái sự dửng dưng này không chỉ riêng bọ, có thể nói là số lớn những người làm văn học nghệ thuật. Một khi người ta đặt tiêu chí đúng lên trên tiêu chí hay, tiêu chí thân quen lên trên tiêu chí sòng phẳng, tiêu chí phân phối giải lên trên tiêu chí công bằng ở mọi cuộc thi văn nghệ thì bọ biết thân phận mình lẳng lặng rút lui. Tưởng bác Trần Mạnh Hảo cũng đã yên phận thủ thường rồi, ai dè bác vẫn còn máu he he.



Bọ post bài ni lên, bà con cùng bàn luận với bác Hảo nhé. Đây là ý kiến bác TMH chứ không phải ý kiến của bọ, kính thưa các đồng chí VNQĐ.
Cuộc thi thơ văn của tạp chí Văn Nghệ Quân đội hai năm 2008-2009 vừa được báo chí loan tải ( 7-01-2010) đã kết thúc và thành công rực rỡ. Thậm chí có trang web www.lethieunhon.com còn tung hô hai nhà thơ được giải A về thơ là Nguyễn Linh khiếu và Nguyễn Thanh Mừng là “hai trạng nguyên thơ” (!)
Công bằng mà xét, quả là cuộc thi thơ này đã “thành công rực rỡ” với bài thơ hay “Thời đất nước gian lao” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến ( giải B) và chùm thơ hay ba bài của nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh ( giải C)  : “Trời đói chim”,”Mùa thu ảo”, “Sóng”…

Có lẽ, ban chấm giải cuộc thi thơ văn lẫy lừng này cân nhắc khá kỹ lưỡng nên giải truyện ngắn không có trạng nguyên, chỉ có bảng nhỡn, cử nhơn, tú tài mà thôi. Riêng giải thơ đã phát hiện được hai tài năng là hai trạng nguyên : Nguyễn Linh Khiếu với hai bài viết về bội đội và chiến tranh cách mạng : “Những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở Sơn Mỹ”, “Hoa mộc miên” và Nguyễn Thanh Mừng với bài thơ văn xuôi khá dài viết về các chiến sĩ hải quân hi sinh ngoài biển đảo : “Hào phóng thềm lục địa”. Chúng tôi xin mạn phép bàn về ba bài thơ của hai trạng nguyên thơ này.
 Chúng tôi đã đọc đi, đọc lại ba bài thơ “giải A” trạng nguyên này đến hơn mười lần mà vẫn cứ thấy 32 câu thơ của Nguyễn Linh Khiếu và 108 câu thơ của Nguyễn Thanh Mừng không thể gọi là thơ, trừ hai câu này của Nguyễn Linh Khiếu còn tạm gọi là thơ : “ người xa nhà rượu ngô như lửa đêm đông/thanh vắng vẳng tiếng hoa tầm tã”( Hoa mộc miên biên giới)
 Nhiều lần trong các bài phê bình thơ, chúng tôi đã viết : trong thơ có nói nhưng chỉ là những câu nói suông thôi thì không thể gọi là thơ. Ba bài thơ của hai tác giả trạng nguyên thơ trên chỉ là những câu nói tầm thường, bình thường được xuống dòng liên tù tì thì sao có thể gọi là thơ ?
 Chúng tôi xin trích bài “Những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở Sơn Mỹ” của Nguyễn Linh Khiếu :
Đây là khổ thơ thứ nhất, không thấy câu nào gọi là thơ : “một sớm mai miền Trung thanh bình/cây cối tốt tươi đang mùa đơm hoa kết trái/tôi thấy những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở Sơn Mỹ/ nước mắt ròng ròng tội nghiệp họ níu ríu ôm nhau”
 Đây là khổ thứ hai cũng chẳng tìm thấy câu nào là câu thơ : “những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở chứng tích Sơn Mỹ/những da trắng da vàng da đen da đỏ/họ đến từ đâu trên trái đất này/có ai người Mỹ người Pháp người Nhật người Tàu và người Hàn quốc/chiến tranh để lại đất này biết bao chứng tích đau thương”
 Đây là khổ thứ ba của bài thơ cũng chẳng tìm thấy một câu thơ nào, toàn là những lời nói tầm thường : nói toẹt ra : “buổi sáng một giải miền Trung nắng gió thanh bình/những thiếu nữ ngoại quốc ôm nhau thảm thiết/nơi đây một buổi sáng lính Mỹ đã tàn sát 504 người dân vô tội/xác của họ vẫn nằm rải rác quanh đây/hồn của họ vẫn xếp hàng quanh chứng tích/mắt của những người bị giết vẫn nhìn ta im lìm”
 Đây là khổ thứ tư (khổ cuối cùng) của bài thơ, cũng chẳng tìm thấy một câu thơ :”những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở chiến tích Sơn Mỹ/có ai là người Mỹ người Pháp người Nhật người Tàu và người Hàn Quốc/ còn khóc được là còn trong sạch/nước mắt có ngăn được tội ác/nước mắt có xoa dịu chứng tích đau thương”
 Cái gọi là “bài thơ” trên của Nguyễn Linh Khiếu không có tứ, không có hình tượng, hình ảnh tượng trưng nào, không có nghĩa bóng ( nghĩa ẩn- đa ngữ nghĩa) chỉ có những câu nói chăm xuống dòng, sao có thể gọi là thơ ? Hay là vì chúng tôi người trần mắt thịt, không có “long nhãn” như các vị trong ban chấm giải nên không thấy cái hay tuyệt vời của bài tấu được gọi nhầm là thơ trên đây ?
 Xin quý vị cùng chúng tôi xét tiếp bài thơ được giải A thứ hai của Nguyễn Linh Khiếu : “ Hoa mộc miên biên giới”. “Bài thơ” này Nguyễn Linh Khiếu lấy tứ ( đạo thơ) của các bài thơ :”Hai sắc hoa ti gôn ( TTKH) “Máu và hoa” ( Tố Hữu), “Thời hoa đỏ” ( Thanh Tùng), “ Mồ anh hoa nở” ( Thanh Hải)…làm tứ thơ của mình. Chủ đề máu nở thành thành hoa đã thành quá sức sáo mòn trong thơ kim cổ; nay Nguyễn Linh Khiếu lặp lại rằng anh đến biên giới gặp các chiến sĩ biên phòng, thấy hoa mộc miên đỏ rực và phát hiên ra : máu của các chiến sĩ biên phòng từ nghìn năm nay đã nở thành hoa ! Nhưng nếu sự lặp lại hình tượng trong thơ của những nhà thơ khác nơi Nguyễn Linh Khiếu được viết bằng xúc cảm, làm mới lại bằng hình ảnh …thì nó đã đi một nhẽ. Đằng này, với lối viết “nói toẹt ra”, Nguyễn Linh Khiếu đã “có công”đóng góp vào kho tàng thơ dở một bài thơ quá dở. Cái gọi là “bài thơ” này của Nguyễn Linh Khiếu còn quá tệ ở chỗ ngôn từ của anh quá cũ, quá sáo mòn ( sáo cũ), nghe rất “cải lương” : “rực đỏ tâm can”,”một trời biên viễn”,”ròng rã ngàn năm”,”ngàn năm tê tái”…Chúng tôi không muốn làm khổ bạn đọc bằng cách trích lại những câu nói tầm thường năng xuống dòng này trong “ Hoa mộc miên biên giới” được mạo nhận là thơ (!)
 Xin quý bạn đọc cùng chúng tôi xét tiếp “bài thơ” giải A :”Hào phóng thềm lục địa” của một “trạng nguyên thơ” khác là nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng, chủ tịch hội văn nghệ tỉnh Bình Định. Nguyễn Thanh Mừng đã từng có thơ hay. Chúng tôi từng có bài khen ngợi một tập thơ của Nguyễn Thanh Mừng cách đây khá lâu. Nay Nguyễn Thanh Mừng bỏ giọng thơ chân mộc vốn có là sở trường của mình để thử bút qua loài thơ sở đoản là thơ chính luận, thơ lý sự, thơ làm dáng cách tân, làm dáng uyên bác. Xin trích mười “câu thơ hiện đại”- theo trường phái  “nói toẹt ra-phi hàm xúc” trong bài “ Hào phóng thềm lục địa” của Nguyễn Thanh Mừng để quý bạn đọc xét xem nó có phải là thơ hay không :
“Chúng tôi đã lùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ/Nào yến sào ngọc trai nào đồi mồi san hô nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng/ Tuy nhiên hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông/Và câu chữ dâng lên linh hồn các anh-những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng/Dường như hãy còn quá mỏng/Dù điều ấy,có thể các anh không quan trọng/ Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương/ Sau dòng điện nghẹn ngào về bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt/Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách/Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ…”
 Nguyễn Thanh Mừng cứ kể lể dông dài vớ vẩn như thế suốt 108 lần xuống dòng, với một giọng điệu giả cầy cách tân, làm dáng hiện đại, uốn éo, cầu kỳ, ngô nghê, sáo mới…một cách rất khó chịu, tịnh chẳng thấy câu nào có thể gọi là câu thơ ?
 Chúng tôi chẳng đặng đừng mà viết bài báo nhỏ này để hỏi ban chấm giải thơ cuộc thi thơ hai năm ( 2008-2009) của tạp chí Văn Nghệ quân đội rằng, các vị mở cuộc thi này nhằm thi thơ hay hay là thi thơ dở? Nếu là mục đích cuộc thi chọn lấy thơ hay làm giải nhất ( giải A) thì cuộc thi thơ này đã thất bại hoàn toàn. Còn nếu mục đích của cuộc thi này nhằm chọn lấy thơ dở, tôn vinh thơ dở thì quý vị đã thành công mỹ mãn.,.
Sài Gòn ngày 10-01-2010
T.M.H.
Nguyễn Việt Chiến
  
   Thời đất nước gian lao    
 Chúng đã ngủ cả rồi
những con hươu bị bóng đêm săn đuổi
chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng
rồi nằm mơ về một cánh rừng
không có thuốc đạn và súng săn
 Họ đã ngủ cả rồi
những người lính bị chiến tranh săn đuổi
họ nằm mơ gặp lại bầy hươu
gác sừng lên người bạn vô danh
trên cánh rừng đã chết
 Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ
chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi
chỉ còn lại câu thơ thầm lặng
về những người đã ra đi
 Chỉ còn lại những gì không còn lại
bởi người  đau đớn nhất sau chiến tranh
không ai khác ngoài mẹ của chúng ta
những đứa con không trở về
hoà bình dưới mưa phùn
được đắp bằng cỏ non và nước mắt
   *
*   *
 Đêm đêm
những người con ngỡ đã đi thật xa
đang lặng lẽ trở về
họ lẫn vào gió vào sương đêm
không cần an ủi
họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi
 Họ còn nguyên tuổi trẻ
những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước
chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân

 Họ trở về tìm lại
trang sách học trò đêm đêm còn thao thức
trên  cánh đồng tiếng Việt ngàn năm
 Mẹ lại thấy chúng con về
như cánh cò tuổi thơ lưu lạc
đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương
chúng con trở về tìm lại
giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ
 Một bên là núi sông ngăn cách
còn bên kia là bóng đêm chiến tranh
vẫn biết đạn bom không có mắt
vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi
đâu là hoa sen và đâu là bùn tối
nhưng các anh vẫn phải ra đi
 Các anh phải ra đi
lời ru chùa Tây Phương
những La Hán mặt buồn
người thợ mộc xứ Đoài
lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ
ba mươi sáu dẻo xường sườn
réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục
người gẩy đàn thì đau đớn
mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui

 *
*   *
 Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xaoTổ quốc hao gầy
 Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại
lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm
Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu
nuôi lớn những người con
rồi gửi tới chiến trường
 Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ
những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi
một thế hệ hồn nhiên không biết chết
chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời
 Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo
áo phù sa lam lũ tháng ngày
câu quan họ cất trong bồ thóc cũ
sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…
   *
*   *

 Tàu xuyên đêm
tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật
đêm nay họ trở lại một thời gian lao
đường vào Nam hun hút những chuyến tầu
máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại
câu hát bảo:
tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi
câu thơ bảo:
đất nước hình cánh võng mẹ ru ta
 Và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già
trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt
trăng mất máu như bạn ta thủa trước
dọc cánh rừng na-pan
 Sông Thạch Hãn
nước mùa này còn ấm
và các anh trong suốt
những người hy sinh thời gian lao
 Mây Quảng Trị
mùa này vẫn một mầu huệ trắng
trên Cổ Thành
như  ngày các anh ngã xuống
những người hy sinh thời gian lao
 Và mưa gió Trường Sơn
mùa này vẫn tắm gội
những người con nằm lại
thời đất nước gian lao

 Những cánh rừngcuối thu ngủ dưới mưa phùn
đất nước tôi những người nằm trong đất
chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ
buồn đau không còn thở than
 Những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm
người chép sử ngàn năm là bùn đất
kiên trì và nhẫn nại
máu của người là mực viết thời gian.    

Ảnh của tôi ngườilàngcốm

Đọc những câu thơ đại ca TMH trích ra từ hai bài thơ giải A “trạng nguyên” của Cuộc thi thơ văn của tạp chí Văn Nghệ Quân đội hai năm 2008-2009, vừa sướng củ tỉ vừa tiếc nửa đời còn lại.
Sướng củ tỉ vì ngày nào mình cũng “Vẫn mở vi tính làm thơ”. Nhờ máy đếm trong Word có đến cả vạn câu thơ chứ đâu chỉ có 32 câu hay 108 câu!
Tiếc nửa đời còn lại, vì không biết có “Cuộc thi thơ văn của tạp chí Văn Nghệ Quân đội hai năm 2008-2009” (Do chỉ quen lướt Web và lại mê mải làm “thơ” trên vi tính, lại tiếc tiền mua báo giấy, đặc biệt báo Quân đội để đọc) .
Nếu biết, chọn lọc vài bài, mỗi bài chừng một nghìn linh tám câu kể lể dông dài vớ vẩn suốt 1008 lần xuống dòng gửi dự thi. Biết đâu, với ban chấm giải cuộc thi thơ văn lẫy lừng này, như ông Ngô Minh nói ‘KHÔNG HIỂU THƠ LÀ GÌ”, thơ mình cũng sẽ đoạt giải ba chữ A hoa, trạng nguyên đệ nhất đẳng Ba … Hoa … A!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  KÍNH   BÁO Chủ nhân trang blog Bị ốm. Vì Vậy trang NgườiLàngCốm.BlogSpot xin tạm đóng cửa. Xin kính báo cùng toàn thể Độc giả xa gần !!!  ...