Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017



 NGHĨ VỀ HAI CÁI KẾT CỦA HAI CHUYỆN CCRĐ.




_______________________________________

“NHỮNG CHUYỆN CÓ THẬT VÀ BỊA ĐẶT CỦA TÔI” kỳ 8 kết thúc phần I truyện dài và cũng là kết thúc cuộc CCRĐ ở quê choa của tác giả.
Hai sự kiện kết thúc về ông trời con Đội trưởng và cô gái nông dân rễ chuỗi chị Hiên để lại hai dấu đậm trong tâm trí người đọc khiến tôi không thể không nghĩ về cái kết cũng của ông trời con, đội trưởng Cự và một loạt các cô gái rễ chuỗi trong “BA NGƯỜI KHÁC” nổi danh của Tô Hoài.
1 – Đội trưởng trong chuyện của NQ Lập xuất thân từ một gia đình phu kiệu, nghiện thuốc lào một cách quái đản có một không hai trên, một con người đầy tính gian manh hèn hạ, đểu cáng, dâm ô và tàn bạo với cách phát minh oai hùng về tuyên bố tử hình bọn phản động bằng việc đập vỡ điếu cày và thích xử tử bọn phản động bằng dao cùn chém cổ. Cứ một nhát chém là một lần hô đả đảo và muôn năm, hô đến rát họng cổ vẫn chưa lìa.

Vậy mà sau sửa sai:
“Đội trưởng được vội vã đưa lên huyện, đề phòng quần chúng nổi khùng sau sửa sai, một ngày sau ông biến mất tăm, đi đâu không biết, không một ai quan tâm, như là chưa hề có ông ở trên đời. Chỉ có ba tôi biết Đội trưởng đi đâu nhưng ông không nói. Đội trưởng rời khỏi huyện vào ban đêm, gặp ba tôi ở cổng uỷ ban huyện, Đội trưởng đi giật lùi, nói tui vô can nha đồng chí Đạng, huyện uỷ nói rồi tui vô can, dứt lời ông ù té chạy, phút chốc biến vào đêm đen.”
– Cái kết về đội trưởng Cự trong “Ba người khác của Tô Hoài” lắt léo hơn. Cự là đội trưởng của ba trong số 12 anh đội của một đôi cải cách cũng điêu ngoa, tráo trở, lừa bịp, cửa quyền, hủ hóa, vô nhân tính, phi đạo đức nhưng lại vô cùng hèn nhát.
Sau CCRĐ, đội trưởng Cự vào mặt trận phía Nam rồi ra hàng địch, nghe đài Sài Gòn nói. Bên ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt bằng được thằng phản bội ấy. Cả một trung đội sẽ tấn công, những chỉ một người trách nhiệm đặc biệt phải bắt sống hay là giết nó tại trận. Nhiều người giơ tay xin nhận lệnh, rồi chỉ có chiến sĩ đặc công đồng chí Quyết Thắng được vinh dự. Người đó là Vó, con bác trưởng thôn Diệc. Quyết Thắng được hơn mọi người, Quyết Thắng nói: “Tôi biết mặt thằng Cự, nó đã ở nhà tôi mà”.
Rồi:
“Một trận đánh chớp nhoáng đột nhập vào cơ quan chiêu hồi của ngụy ở giữa Sài Gòn. Quyết Thắng đã rút dao chém đứt cổ Huỳnh Cự trong đám loạn quân tháo chạy. Lại còn xách được cái đầu Cự đem về làm bằng.”
Câu chuyện anh dũng cứ được kể lại mãi, không biết thực hay hư thế nào.”

Thoạt xem, người đọc có cảm tưởng, ngòi bút của Nguyễn Quang Lập đã nhẹ tay với tên Đội trưởng nghiện thuốc lào nặng. Y được đưa về huyện an toàn rồi được huyện ủy nói là vô can. Cái hình ảnh “biến vào đêm đen” khiến ta dễ hiểu nhầm: cái đêm đen ấy rồi sẽ qua đi vì hết đêm đen thì mặt trời sẽ lại mọc! Nhưng bình tâm nghĩ lại, ta bỗng nhận ra: Cái đêm đen đó không thể gọi là có hậu vì tiền đồ của y cũng chỉ còn là cái đêm đen mù mịt như cái đêm đen của chị Dậu trong Tắt đèn của cụ Ngô Tất Tố mà thôi!
Còn chuyện đội trưởng Huỳnh Cự sau này hồi chánh tại miền Nam và bị một người dân trong làng tìm giết trả thù , mặc dù “không biết thực hư thế nào”, thoạt nghe tưởng là “ác giả ác báo” nhưng nghĩ lại, ta thấy Tô Hoài có phần nào muốn bào chữa cho một cơ chế: CCRĐ, nó không quá tệ thế đâu, chẳng qua vì những kẻ xấu như đội trửơng Cự, và đám này trước sau gì cũng phản bội lại đồng chí đồng đội của mình thôi!
Hai cái kết đều hư hư thực thực nhưng cái kết của Nguyễn Quang Lập gần với dân gian hơn. Người đọc bình dân có thể nói: Đội trưởng điếu cày không bị người trả thù nhưng biết đâu nó sẽ bị Trời đánh như Lý Thông trong cái màn đêm đen tối ấy!

2 – Cái kết dành cho Hiên, cô gái chuỗi trong truyện của Nguyễn Quang Lập cũng khác cái kết dành cho các cô gái nông dân chuỗi rễ trong truyện của Tô Hoài:
- Chị Hiên trong truyện của NQ Lập thì: “ đóng cửa chặt suốt ba ngày không dám bước ra khỏi nhà, rồi Ba tôi tưởng chị tự tử, đạp cửa xông vào, chị quì sụp vái lấy vái để, nói ôi cậu Đạng ôi… tui đả đảo tui… tui đả đảo tui. Từ đó về sau chị đổ bệnh tâm thần”
Rồi:
“Chừng ba tháng sau bụng chị phình to, ngày ngày chị ngồi ngạch cửa nhìn ra đường, hễ ai đi qua là chị đấm bụng bùm bụp, nói tui đả đaỏ tui, tui đả đảo tui. Có lẽ chị đấm bụng dữ quá, cái thai phải tòi ra khi chưa đầy sáu tháng. Khắp Thị trấn đồn ầm lên chị đẻ ra cái điếu cày.”
- Còn các cô gái chuỗi rễ của Tô Hoài thì gần như tất cả không những bình an vô sự mà còn được đội sửa sai cho ký vào đơn tố cáo anh đội Bối (Tôi-Tô Hoài?):
“Tôi được đưa xem cái đơn. Tôi nảy đom đóm mắt – Những đêm đi gác, ở trong lều, đã chung cha với những ai, nằm ngồi thế nào, ai bằng lòng, ai bị đè ra, ôi chao, ở những bờ tường, những bụi chuối… Đơn lại tố cáo tôi đảng viên giả có chữ ký của Cự – đội trưởng cải cách. Thế có chết không, nó cho húp nước đường lại tống theo quả lửa. Bao nhiêu tên ký, trông hoa lên những Gái, những Nụ, những Má, những Tôm, những… Chẳng biết trong đám chữ ký tíu tít có Duyên, có Đơm không. Dưới tờ đơn có chữ ký của đội trưởng, đội phó sửa sai xác nhận và đề nghị kiểm điểm một đệp những cuộc họp tố cáo các xóm Am, xóm Chuôm, xóm Đìa và cả những xóm tôi chưa đến bao giờ.”

Cái kết Tô Hoài dành cho các cô gái rễ chuỗi này có lẽ đúng với thực tế sửa sai. Một cái kết chỉ hài hước đôi chút nhưng nhẹ như bấc trong lòng người đọc. Cái kết của Nguyễn Quang Lập dành cho Hiên có thể không đúng lắm với thực tế sửa sai. Nó nặng như chì nhưng đọng trong lòng người đọc sâu hơn, bền hơn. Nó khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh quả báo ghê rợn dành cho mẹ con Cám trong chuyện Tấm Cám rất gần gũi với dân gian. 
Tôi thích hai cái kết của “NHỮNG CHUYỆN CÓ THẬT VÀ BỊA ĐẶT CỦA TÔI” hơn hai cái kết của “BA NGƯỜI KHÁC” mặc dù tôi yêu đắm đuối văn chương cụ Tô Hoài từ cái thuở “Dế Mèn phiêu lưu ký” hơn nửa thế kỷ nay!

Trả lời
•  
bác phân tích cực hay và xác đáng. Tuy nhiên hai kết của bọ chỉ là kết của hồi 1, câu chuyện này gồm 5 hồi, và Đội trưởng và chị Hiên sẽ có dịp xuất hiện, không biết số phận cuả họ thế nào, xin xe xem hồi sau sẽ rõ, hi hi
Bởi: NGUYỄN QUANG LẬP ngày 30.11.2009 
lúc 2:52 chiều

    HẠNH PHÚC HAY TỘI LỖI?

 VĨNH BIỆT 19 CON GÀ TRỐNG


untitled
Truyện ngắn

Giấy báo tử quân nhân Hồ Rúm: “Đã hy sinh anh dũng tại mặt trận B5” về làng Cò vào lúc bà Rúm đang xách đèn đi tìm gà. Con gà trống cuối cùng trong “Chuồng gà bất tử” của bà đã mất.
 Rõ ràng bà vừa cho nó ăn lúc năm giờ rư­ỡi, sáu giờ kém m­ời lăm nó lên chuồng, đúng lúc đài phát nhạc hiệu sáu giờ “Từng ni gạo, từng ni gạo, từng ni gạo. Ăn răng cho đủ một tuần. Không ăn thời sẽ mất phần…” bà đi đóng cửa chuồng gà. Bà bước ra: Hỡi ôi, chuồng gà trống hoác!
 Mả cha nhà nó, cái thằng chết vợ ở sát nách nhà bà, chính nó đã cuỗm nốt con gà trống cuối cùng của bà chứ còn ai vào đó nữa. Bà thời dí cái mặt nhớp của bà vào mõm nó cho mà xem.
Nói vậy chứ bà chẳng thèm dí nữa, mư­ời tám lần trước bị mất gà, bà đã đòi dí vào mặt nó rồi mà nó cóc sợ lại còn thè lè lưỡi, ra chiều thích thú lắm, thế mới tởm!
Bà cũng không thèm nhảy bổ sang nhà nó chửi rủa làm gì. Thằng này rất đểu. Mỗi bận mất gà, bà vén quần xỉa xói, la hét, ném vào mặt nó tất cả từ ngữ bẩn thỉu nhất mà nó cứ ngồi bó gối, trừng mắt nhìn bà, không thèm nói lại một lời. Đợi đến khi bà kiệt sức bỏ về, nó mới nhảy ra hét lớn: “Huơ con mụ kia, có giỏi thì vào đây ! ” Lập tức bà quay lại vừa nhảy chồm chồm vừa chửi nh­ư tát nước thì nó lại ngồi bó gối, trừng mắt nhìn bà, không nói một lời.
 Bà càng điên, càng rống đến khản cả giọng. Bà bỏ về, nó lại nhảy xổ ra: “Huơ con mụ kia, tao giết cả họ nhà mày!” Bà chồm lại chửi, nó lại bó gối ngồi im. Sư­ cha nhà nó lần nào mất gà, bà cũng khản giọng mất tiếng vì trò đểu của thằng chết vợ kia.
 Thằng đểu thằng mất dạy, thằng khốn nạn, thằng trời đánh thánh vật thằng chết đâm, chính nó đã khai tử cái “Chuồng gà bất tử” m­ười chín con gà trống của bà.
Nó ngu lắm. nó tưởng bà nuôi gà để ăn, nó sấp mặt liếm láp cho lắm vào nên lú lấp không hề biết bà đã vắng chồng mư­ời chín năm, vợ nó chết bom cũng đã m­ười chín năm. M­ười chín năm bà chết héo vì nhớ chồng.
Xư­a chồng bà thường vùng dậy vui vẻ với bà vào lúc gà gáy sáng. Ôi ông chồng tuyệt diệu của bà làm gì cũng hùng hục nh­ư trâu, đến nỗi m­ười chín năm qua hễ gà gáy là bà vùng dậy, không ngủ được, bụng dưới đau buốt trong khi lồng ngực như­ rỗng ra, gió lạnh lùa qua hun hút.
 Lại thêm cái con khỉ đột sau nhà, hú hí cho lắm vào, ngủ chết mê chết mệt, con khóc rền rĩ suốt năm canh mà nó không thèm hát ru lấy một câu khiến bà càng điên tiết. Ông trời là cái thằng quan liêu, kẻ thèm con đến chết thì không có, đứa sợ đẻ kinh hồn thì cứ xồn xồn ba năm hai đứa.
Vậy nên bà mới bỏ tiền ra mua đúng m­ười chín con gà trống về nuôi, vừa để đánh dấu m­ười chín năm thương nhớ của bà, vừa để đến cái giờ khỉ gió ấy chúng gáy rộn lên cho vui.
Mà vui thật, vui ra phết, bà nghe rõ tiếng từng con một, mỗi con một giọng, mỗi kiểu gáy – con thì kêu: “Huơ bà Rúm… dậy” Con thì réo: “Mau mau lên kẻo… sáng?” Con thì la: “Bà muốn trai hay… gái!” Có con chẳng gáy cứ: “Đư­ợc được được” hoài, đến chết cười.
 Bây giờ thì hết sạch sành sanh. Bà xách đèn chạy cuống cuồng hết ngõ này đến ngách kìa vẫn không thấy. Cuối cùng bà lao vào nhà thằng kia. Nó lại ngồi bó gối, trừng mắt nhìn bà. Bà khua đèn trước mặt nó, rồi bà nhảy chồm chồm, rồi bà nguyền rủa nó, rồi bà khóc hu hu.
Vào đúng lúc ấy ông chủ nhiệm hợp tác xã làng Cò đến đặt vào tay bà giấy báo tử quân nhân Hồ Rúm: “Đã hy sinh anh dũng tại mặt trận B5”. Mấy năm sau bà vẫn nhớ như­ in khi đó bà không hề khóc. Bà mâm mê tờ giấy hồi lâu, miệng lẩm nhẩm: “Hy sinh anh dũng… tất nhiên có anh dũng mới hy sinh… hy sinh thì phải anh dũng rồi…”
 Bà nhìn hai người đàn ông, kẻ ăn trộm gà bà, kẻ đ­ưa cho bà tin đại họa… Họ rũ xuống, trông thật thảm hại. Hai cái mặt trước mắt bà bỗng to như­ cái mâm bỗng nhỏ nh­ư đồng xu bỗng nhăn nhúm như­ giẻ rách. Bà hét lên một tiếng gì đó thật kinh hoàng và rơi xuống sân nhừ một trái bầu khô.
 Bà nhớ kẻ ăn trộm gà đã đặt bà lên tấm phản, rối rít xoa dầu, xoa rất kỹ, hình như­ còn lật áo bà lên xát mạnh dầu vào cột sống. Bà cảm thấy mát, rất mát. Sau, bà cảm thấy nóng rất nóng rồi lịm đi cho tới sáng. Đó là đêm đầu tiên sau m­ười chín năm xa chồng bà được ngủ ngon lành.  
Bà không tin được, không cách gì có thể tin được, bà có thể ngủ được trong cái đêm kinh hoàng đó, cũng như­ không thể tin được tại sao bà không nhỏ được một giọt nước mắt nào khi cầm trong tay tờ giấy báo tử hãy còn thơm mùi mực.
Bà thắp hương khấn, lại thắp hương khấn, một bát cơm trắng một đĩa muối trắng một chén rượu trắng bà cúng chồng bà ròng rã ba trăm sáu mươi lăm ngày. Kẻ ăn trộm gà, người hàng xóm đơn độc suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày qua vẫn ngồi ủ rũ ngó qua, âm thầm ngửi mùi hương khói nhà bà.
 Rốt cuộc bà đã hiểu được tâm địa của kẻ đó, ông ta cũng không ngủ được như­ bà. Hễ gà gáy là ông thức, gà nhà bà càng gáy, ông càng không tài nào nhắm mắt được, đến lúc ông phát khùng lên, quyết định đập tan cái “Chuồng gà bất tử” nhà bà.
 Cuộc chiến tranh giữa “hai nước láng giềng” bùng nổ, kéo dài ba tháng m­ời ngày thì tin báo tử quân nhân Hồ Rúm: “Đã hy sinh anh dũng tại mặt trận B5” rơi xuống đời bà. Bà trở thành vợ liệt sĩ duy nhất của làng Cò và vì thế bà trở thành niềm tự hào duy nhất của làng Cò và vì thế bà ngã bệnh, ốm liệt giường hai mươi sáu ngày chẵn.
Người đàn ông mà bà ghét cay ghét đắng đã kiên nhẫn nấu cháo, thuốc men cho bà suốt hai mươi sáu ngày bà đau ốm. Ông ta như­ một kẻ câm, cứ đến buổi lại sang đặt lên đầu giường bà một tô cháo, một bát thuốc bắc đã hâm nóng rồi lẳng lặng rút lui.
 Lúc đầu bà chẳng nói gì, mãi sau vẫn chẳng thấy ông nói gì, vậy là bà buột miệng hỏi: “Tiền đâu mà ông giúp tôi nhiều thế?”. Ông mỉm cười: “Tiền tôi bán m­ười chín con gà trống nhà bà đấy”. Bà nhổm dậy nhìn ông, ông thủng thẳng kể. Nước mắt bà hai hàng. Trời ơi, thế mà bà cứ đinh ninh trên thế gian này chỉ có mỗi mình bà là nửa đêm tỉnh giấc!
Bà lành bệnh, ông không sang nữa. Suốt ba trăm sáu mươi ngày bà hương khói cho chồng, ông ngồi co ro ở bậc cửa ngó sang âm thầm ngửi mùi hương khói nhà bà. Bà chờ ông sang để nói với ông một vai lời ân hận, một đôi câu cảm ơn. Bàn thờ nhà bà một bát cơm trắng một đĩa muối trắng một chén rư­ợn trắng. Bàn thờ nhà ông cũng thế, không hơn. Thế mà ông không sang, kiên quyết không sang, chỉ ngồi co ro ở bậc cửa ngó sang.
Chiếu nay bà ra vư­ờn, vơ vẩn tìm cái gì đó ở mép hàng rào nhà ông, bà tìm hoài đến sẫm tối vẫn không biết mình đang tìm cái gì. Bà ngư­ớc lên, chợt thấy ông cũng đang loay hoay tìm cái gì đó. Hình như­ ông đã tìm rất lâu…
“Làm gì thế. ” – Ông hỏi. “Không!” – Bà lúng lúng trả lời. “Trời sắp tối rồi” – Ông nói. “Ờ” – Bà thở dài. “Trời sắp tối rồi” – Ông lại nói. “Ờ” – Bà lại thở dài. “Sao độ này ông không sang nhà tôi nữa?” – Bà thở hắt ra và cảm thấy nhẹ hẳn cả người. “Tối tôi sang” – Ông nói, giọng run run. “Nhé?” – Bà cười.
Sẫm tối bà cứ loanh quanh bên bể nước – “Không biết tắm bây giờ hay nửa đêm mới tắm như­ mọi khi nhỉ”. Bà vục gàu vào bể nước, ngẫm ngợi một chút rồi dội ào ào mấy gàu liền. Cha ơi là mát, giá bây giờ cỏ tí xà phòng thơm nhỉ. Chợ tan rồi không thì bà chạy vù ra mua một cục “Luýt” ngay. Mát quá. Thôi kệ, tắm thế này cũng tốt chán. Cha ơi là mát, dù sao có thêm tí xà phòng thơm cũng hay hơn. Thôi kệ…
Ông đến đúng bảy giờ m­ười lăm. Sao hôm nay trăng sáng thế nhỉ. Bà vào nhà, ông vào theo. Bà xuống bếp, ông xuống theo. Khiếp, sao cứ đi sát người ta thế. Bà vụt quay lại, và bỗng nhiên thấy mình lọt vào vòng tay của ông.
Họ thở hổn hển lúng ta lúng túng như­ gà mắc tóc, luýnh quýnh rơi xuống nền nhà. Ông hì chặt lấy bà. M­ười chín năm là bao nhiêu ngày nhỉ? Bà mở mắt nhìn ông. Ngực bà đã che kín mặt ông. Bà thở mạnh. Chợt trước mắt bà xuất hiện một bộ mặt đàn ông khác.
 Bà dụi mắt, vẫn người đàn ông kia đang nhìn bà. Bà giật thót người, đẩy mạnh ông lăn xuống đất. “Gì thế” – Ông ngơ ngác. “Kìa! Chồng tôi!” – Bà vơ vội áo quần tấp vào mình. “Về đi! Về đi! Về nhanh lên!” – Bà tru tréo.
Ông đã nhìn thấy mặt người đàn ông kia tấm ảnh chồng bà vừa tụt dây chằng đang lủng lẳng phía vách trái. Ông rùng mình, bỏ chạy. Bà quỳ xuống vái lấy vái để. Bà vùng chạy ra sân. Trăng sáng quá, chui vào góc nào cũng thấy bóng bà.
Bà oà khóc, ôm ghì cây mít khóc nức nở. Nước mắt chảy xuống mặt, lăn vòng vèo vào ngực bà giọt nóng giọt lạnh. Một giờ sau bà bình tĩnh trở lại, quay vào nhà cẩn thận treo tấm ảnh chồng lên ngay ngắn. Bà thắp hương lầm rầm khấn vái, hình nh­ư bà xin chồng phù hộ độ trì cho bà được… được… được…
Gần sáng bà vào buồng tung chăn trùm kín người. Phải ngủ, không ngủ được thì chết. Bà quay đi trở lại bốn góc giường. Không ngủ được, nóng quá. Bà đạp chăn rơi xuống đất. Nằm một lúc thấy lạnh quá, bà kéo chăn trùm kín người. Lại nóng quá, bà đạp rơi chăn. Lại lạnh quá… Bà lồm cồm bò dậy, chống cửa.
 Bà ngồi ở bậc cửa đến canh ba, nhìn xéo sang nhà người hàng xóm thấy đèn vẫn sáng, bà đứng vụt đậy, chạy sang. Đư­ợc ba bước bà thốt nhiên thấy lạnh ở gáy. Bà quay lại, chồng bà đang nhìn bà, cái nhìn vừa dịu dàng vừa hờn dỗi. Bà ôm ngực nấc lên. Một luồng diện tê buốt chạy từ gót chân lên ngực bà. Bà rơi xuống.
 Trăng sáng quá, sáng đến nỗi từ xa, rất xa vẫn thấy máu trong ngực bà đang chảy.  

Hà Nội, 9 -1991


        áº¢nh cá»§a tôingườilàngcốm
31.07.2009 lúc 7:59 chiều

1-Bọ chậm “Quê choa chí dị” kỳ 3 cũng được, vì “Vĩnh biệt mười chín con gà trống” cũng phảng phất không khí chí dị rồi! Đó là hình ảnh: “Ông đã nhìn thấy mặt người đàn ông kia tấm ảnh chồng bà vừa tụt dây chằng đang lủng lẳng phía vách trái. Ông rùng mình, bỏ chạy. Bà quỳ xuống vái lấy vái để…”

2-Theo tôi, tình tiết hay nhất của câu truyện là cảnh đêm trăng đẹp nhưng hạnh phúc bất thành giữa người đàn bà đã vắng chồng mười chín năm và người đàn ông vợ chết bom cũng đã mười chín năm. “ Sao hôm nay trăng sáng thế nhỉ. Bà vào nhà, ông vào theo. Bà xuống bếp, ông xuống theo. Khiếp, sao cứ đi sát người ta thế. Bà vụt quay lại, và bỗng nhiên thấy mình lọt vào vòng tay của ông…”. Trăng đẹp thế và tình đang nồng như thế mà bỗng “ Chợt trước mắt bà xuất hiện một bộ mặt đàn ông khác.” Đó là “mặt người đàn ông kia tấm ảnh chồng bà vừa tụt dây chằng đang lủng lẳng phía vách trái.”

3-Tự dưng tôi nhớ tới cái đêm trăng đầy hạnh phúc của Chí Phèo và Thị Nở: “Bây giờ thì chúng ngủ bên nhau … đứa bé bú no thì ngủ . Người ta ngủ say sau khi làm việc yêu . Chúng ngủ như chưa bao giờ được ngủ … Trăng vẫn thức vẫn trong trẻo … Trăng rắc bụi trên sông, và sông gợi biết bao nhiêu vàng”

Hai cảnh thiên nhiên đều đẹp như nhau. Nhưng hai cuộc tình thì trái ngược hẳn. Phải chăng vì Chí Phèo chỉ là một kẻ chuyên ăn vạ, đâm thuê chém mướn, một thằng trời đánh không chết; và Thị Nở chỉ là một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn nên chẳng có gì ngăn cản hạnh phúc của chúng? Còn hai nhân vật trong truyện của bọ: Người đàn bà lại là “vợ liệt sĩ duy nhất của làng Cò và vì thế bà trở thành niềm tự hào duy nhất của làng”- Chồng bà đã “Hy sinh anh dũng… tất nhiên có anh dũng mới hy sinh… hy sinh thì phải anh dũng rồi…”. Còn người đàn ông kia chỉ là một người vợ chết bom. Bởi thế họ đến với nhau không phải là đem hạnh phúc cho nhau mà là cùng nhau phạm tội lỗi?!!!


NGUYỄN QUANG LẬP Tác giả bài viết
31.07.2009 lúc 11:34 chiều
bác đã chỉ ra những chỗ bọ tâm đắc nhất, rất sướng

Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017


ĐỌC “ĐỨA CON CHUNG CỦA BỐN NGƯỜI ĐÀN BÀ”



       ngườilàngcốm

        Nhìn cái tựa đề “Đứa con chung của bốn người đàn bà” rồi lại đọc câu mở đầu bài tựa: “Bốn người đàn bà bốn góc trời, đầu óc tôi cứ bị ba tiếng “người đàn bà” ám ảnh rồi bật nhớ lại cái truyện ngắn nổi tiếng Thế giới “Người đàn bà có con chó nhỏ” của văn hào Anton Palvlovich Tchekhov mà tôi không còn nhớ mình đã đọc cả thảy bao nhiêu lần. Phạm Thị Hoài hình như cũng đã dựa vào đoản thiên trứ danh này để viết “Người đàn bà với hai con chó nhỏ” và Thái Bá Tân thì mượn nguyên cả cái tên truyện của Tchekhov làm tên cũng cho một truyện ngắn của mình? 
Anh chàng Gurop, nhân vật chính trong truyện của Tchekhop bốn mươi tuổi, chán vợ, chán đời. Có lẽ vì vậy mà hầu như bao giờ anh cũng nói đến phụ nữ với một thái độ thù ghét khinh bỉ. Khi có ai bàn đến phụ nữ ở trước mặt anh thì anh gọi thế này:
- Loại người hạ đẳng!
Từ Mátxcơva trốn xuống Yanta, Gurop ngẫu nhiên gặp người đàn bà có con chó nhỏ, Anna Xécgâyépna, vợ một anh chồng tỉnh lẻ, giàu có nhưng nhu nhược. Không ngờ cuộc gặp gỡ thoáng qua ít ngày trên bãi biển đầy nắng ấy không chóng quên đi như thoạt tưởng mà cứ dai dẳng ám ảnh họ, đến nỗi Gurốp phải tìm đến thành phố C. để rình gặp người đàn bà có con chó nhỏ của mình. Còn Anna Xécgâyépna thì đều đặn đến Mátxcơva lén lút gặp Gurốp. Qua một mối tình bãi biển nho nhỏ, họ đã tìm thấy hạnh phúc và tình yêu thực sự. Họ không thể sống thiếu nhau. Nhưng than ôi, cả hai lúc này đâu còn được tự do để hành động theo tiếng gọi của trái tim. Họ bị ràng buộc bởi cuộc sống gia đình và xã hội – ti tiện, nhỏ nhen đấy nhưng vẫn là những ràng buộc không dễ thoát ra khỏi!
*

Trở lại chuyện “Bốn người đàn bà”, bốn bloggers thân thiết của bọ Lập. Tôi chưa một lần được biết họ nên chẳng hề biết dung nhan, cuộc sống của họ ra sao. Nhưng theo lời giới thiệu của bọ Lập, tôi lại như thấy được trái tim của họ: “ Một ngày đẹp giời họ chợt nhận trái tim mà họ tưởng đã cằn cỗi bỗng muốn cất lên một nỗi gì đó”. Dù trái tim Thanh Chung thảng thốt, trái tim Lâm Cúc xốn xang, trái tim Hoài Vân hờn dỗi, trái tim Kim Oanh tưng tửng, nhưng cả bốn trái tim ấy lại có chung một điều yêu. Yêu đến đau thương. Chính vì thế mà tuy ở bốn góc trời, nhờ blog mà họ quen nhau, rồi thân nhau. Và giờ đây, họ được chung một hạnh phúc, có “ĐỨA CON CHUNG CỦA BỐN NGƯỜI ĐÀN BÀ”. 
Mấy ai ở đời “ gom nhặt kí ức, ném lên trời tiếng reo của niềm vui, tiếng thở dài của nỗi buồn, tiếng kêu của nỗi đau, cả tiếng thét của giận dữ, của uất hận nữa…” mà lại tạo ra văn?. Từ ngàn xưa, đã biết bao người than thở:

“Ngồi buồn đốt một nắm rơm.
Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào.
Khói bay đến tận Thiên tào.
Trời bèn phán hỏi: “ Thằng nào đốt rơm?” 

Buồn , đốt rơm, tưởng khói rơm sẽ thơm. Nhưng khói rơm lại chẳng một chút thơm mà còn khiến Trời phải la mắng!
Ấy vậy mà những thứ ném lên trời, im lặng gửi vào hư vô của bốn người đàn bà ấy lại “ nhận được vô số những lời chia sẻ động viên từ thế giới mênh mông vô hình vô ảnh. Thế giới ảo ngọt ngào và chân thật, sòng phẳng và vô tư dần dần cho họ thấy nẻo vào văn chương của họ và thế là hôm nay họ có cuốn sách rất thật để gửi vào đời thật.”, để họ trở thành nhà văn, dù “Không có ai trong họ trong đời có một lần mơ mình sẽ trở thành nhà văn”. 

Vì vậy, chẳng cần đọc sách của họ, chẳng cần chờ các nhà phê bình lên tiếng dở hay; chỉ ngần ấy thôi cũng đủ để cho chúng ta:

Nồng nàn chúc mừng “TỨ QUÁI CÔ NƯƠNG TRÊN Vnweblogs” sau những phút lâm bồn; 

Nồng nàn chúc mừng đứa con tinh thần chung của bốn người mẹ với cái tên “TIN NHẮN MỘT CHIỀU”!


• Cái còm đầy cảm xúc của bác là cái đinh của entry này, bọ cảm động một nhất định bốn chị em cảm động mười, cảm ơn bác nhiều lắm NGUYỄN QUANG LẬP

MẤY CẢM NGHĨ BAN ĐẦU SAU 6 KỲ ĐỌC
“NHỮNG CHUYỆN CÓ THẬT VÀ BỊA ĐẶT CỦA TÔI”


_________________________________________


       “ Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi”, như tác giả cho biết sẽ post lên mạng thành 25 kỳ. Còn vài ba tháng nữa, người đọc mới thấy đầy đủ hình hài đứa con tinh thần này của Nguyễn Quang Lập. Nhưng qua 6 kỳ đọc, ta đã thấy hiện ra khá rõ nét cái khuôn mặt của nó. Một khuôn mặt tiểu thuyết khác lạ hẳn với các tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và cũng khác hẳn mấy tiểu thuyết trước đây của chính Nguyễn Quang Lập như “Những mảnh đời đen trắng”, “Tình cát”.

1 – Cái lạ trước hết ở chính cái tên của tác phẩm: “Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi” (Dưới đây, xin viết tắt là “NCCT&BĐCT”), một cái tên thể hiện sự ứng đối linh lợi của tác giả: Ai đó bảo chuyện này thật, chuyện kia không thật thì đã bảo rồi mà: chuyện này thật vì nó là thật, chuyện kia không thật vì nó là bịa đặt!

Cô Tấm trong chuyện cổ bị bị mẹ Cám trộn một đấu gạo với một đấu thóc bắt ở nhà nhặt cho xong mới được đi dự hội không phải là việc khó mà chỉ tón công tốn thì giờ thôi bởi hạt gạo vẫn nguyên hạt gạo, hạt thóc vẫn nguyên hạt thóc. Vì vậy khi Bụt cho đàn chim sẻ nhặt giúp Tấm, thì chỉ nháy mắt là xong. Còn người đọc “NCCT&BĐCT”, dù kỹ tính, dù muốn vạch lá tìm sâu xem đâu là thật, đâu là bịa đặt cũng khó mà phân định rõ ràng vì thật và bịa đã được hòa trộn nhau rất khéo, trong thật có giả, trong giả có thật.

Chẳng hạn, nếu ai đó bảo: đứa bé còn nằm trong bào thai làm sao lại vanh vanh biết chuyện bà mạ sinh nở nó khó như thế nào, làm sao có thể: “Từ trong khe hẹp, tôi mở mắt nhìn ra Đời, tức là cái chuồng bò. Lúc đầu tôi không nhìn thấy gì ngoài cái háng bà đỡ đang dạng ra choán cả tầm mắt”. Nhưng sự thật trăm phần trăm đã diễn ra như thế: Một ca đẻ khó do một mụ vườn đỡ cách đây trên nửa thế kỷ. Một mụ vườn có cái háng to bè, đũng quần vá đã đứt tung chỉ đang khó nhọc dạng háng ra để cúi xuống săm soi chờ lúc xộc vũ khí đầy mồ hôi tay vào âm đạo người mẹ, kẹp lấy hai thái dương của thai nhi để lôi nó ra với Đời!

      Hay, có đúng là hình bóng Ái Vân trong giấc ngủ chập chờn đã đánh dấu anh sinh viên 17 tuổi trở thành chàng trai sau “ rùng mình hai ba lần và phóng phụt trong một niềm cảm khoái vô biên”? Chuyện “ma ăn cỗ” còn có thể nhìn thấy qua dấu vết trên mâm cỗ, còn chuyện này của Nguyễn Quang Lập thì Ái Vân cũng chịu mà Trời cũng chịu. Nhưng trăm phần trăm các cậu mới lớn đều đã trở thành chàng trai y như thế…

      2 – Cái lạ thứ hai là Nguyễn Quang Lập đã đem chuyện của gần như tất cả mọi người trong nhà mình ra mà kể và bịa đặt cho thiên hạ nghe, có cả một số người họ hàng thân thuộc: Từ ông ba, bà mạ đến chị Nghĩa, anh Huy, anh Tường, anh Mỹ, chị Liên, anh Thắng, bác Vĩnh Tường…(Có thể các chương tiếp sẽ có thêm thằng em út Vinh?)

      Trong văn học VN hiện đại mới có Nguyễn Khải nổi danh về tài đem chuyện những người thân thuộc ra mà viết, điển hình như trong “Một cuộc gặp gỡ cuối năm”, “Hà Nội trong mắt tôi”. Qua giọng văn trần thuật nhẹ nhàng xen những lời phân tích, bình luận sắc sảo, xác đáng, những suy ngẫm, chiêm nghiệm của người từng trải, hình ảnh những người thân của nhà văn như ông bố, bà mẹ, chị Đại, chị Bơ, cô Hiền…là những nét truyền thần trăm phần trăm khiến người đọc vừa thưởng thức vừa chiêm nghiệm sâu sắc về họ, về cuộc đời và cả về bản thân mình.

      Tuy nhiên, những người được Nguyễn Khải đem ra kể thường nổi lên những nét đẹp của con người, kể cả bố ông, một người không mấy tình phụ tử với ông từ bé, luôn coi ông là chỉ là kết quả của cảnh “vợ lẽ con thêm”.

       Nguyễn quang Lập có khác. Chuyện của ông thì từ ông ba, bà mạ, bên những vẻ đẹp cũng đầy ắp những thói tật xấu. Mạ, theo lời kể thì, khuôn mặt rám nắng đã không có gì hấp dẫn lại còn lẫn một chút đần độn quê mùa nhưng lại là người nữ ngồn ngộn chất phồn thực bên trong và đặc biệt là “Với năng khiếu ân ái thiên bẩm, mạ tôi là người đàn bà duy nhất tạo cho ba tôi có được niềm kiêu hãnh của đàn ông bất kì lúc nào ông lâm trận. Mỗi lần ngập vào mạ tôi, ba tôi chìm trong dàn dụa đê mê, tựa hồ đang bơi lội trong bể tình không bến bờ nhiều bất ngờ thú vị. Dường như sau mỗi lần sinh nở, bể tình ấy lại đầy thêm, phủ một lớp sương”. Ba, có vẻ đẹp trời phú, trí nhớ phi phàm, giọng hát ấm và trong vắt, có bằng diplome đầu bảng, hai mốt tuổi đã là huyện ủy viên, chủ tịch Thị trấn, tất cả đàn ông trong huyện không ai sánh được. Nhưng ông không phải là người yêu vợ mà liên miên chìm đắm vào tình ái với những người đàn bà khác. Một tài trai như ông nhưng trong CCRĐ, ông không có một chút xíu nào người hùng mà nhẫn nhục đến hèn hạ trước ông “trời con” đội trưởng như một con cua rúm hết chân cẳng trước một đại vương ếch.

      Nhưng cũng đúng thôi “Gặp thời thế, thế thời phải thế”!

      3 – “NCT&BĐCTN” không kể theo trình tự thời gian, hết chuyện này rồi mới đến chuyện khác. Tác giả hóa thân vào mọi nhân vật, cùng có mặt với họ trong bất cứ thời gian nào. Kỳ 1 đang chuyện thằng bé đầu quá to lại có ngạnh nhô ra hai bên như hai cái sừng bò khó nhọc từ trong bụng mạ ra chào đời. Kỳ 2 đã chuyện nó thành chàng trai trong cái đêm giấc ngủ chập chờn hình bóng Ái Vân rồi cuộc làm tình đầu đời với cô giáo dạy môn xác suất. Kỳ 3 lại trở về trong lòng mẹ trong cái chuồng bò đêm mưa gió, mở mắt nhìn những người thân yêu, những cái bóng đói lay lắt đang ăn khoai mà ấn tượng nhất là cái bóng của Ba vừa ăn những đụn khoai đụt nhỏ xíu còn sót lại trong nồi vừa để những giọt nước mắt lăn trên má. Kỳ 4 dẫn người đọc trở lại đám cưới mười mấy năm xưa của Ba Mạ rồi cảnh hạnh phúc của một gia đình đông con, cảnh ân ái của Ba Mạ: “Lộc trời của mạ tôi là ba tôi nhưng chỉ về ban đêm, giờ gà gáy canh ba bà mới sẵn sàng hưởng lộc.” Rồi bất ngờ, từ một trận mây mưa rất người: ông Ba đang như con thú điên dại chiếm đoạt, bà Mạ mê đi, gần như mất trí thì bọn sai nha CCRĐ bốn bề xôn xao ập vào bắt Ba về tội phản động! Và kỳ 6 là một cuộc hành hình bất thành vì lòng trời và vì lòng người không thuận.Trong đó có tấm lòng con trẻ của anh Huy mới 9 tuổi được diễn tả như một tấn bi hài kịch “bỗng nhảy ra, tuột quần, chĩa chim trước mặt Đội Trưởng và chị Hiên, nói bắt cái con cặc tau đây nì.” làm dơ mặt lũ con trời và rễ chuỗi của nó, đồng thời cũng làm hởi lòng hởi dạ những người lương thiện!

      4 –Tiểu thuyết “NCCT&BĐCT” được kể theo lối văn khẩu ngữ, một thế mạnh mà hiện giờ chỉ có trên bàn phím của Nguyễn Quang Lập.

      Người đọc khó tìm thấy những đoạn tả người tả cảnh theo đúng lớp lang miêu tả. Nguyễn Quang Lập đã kết hợp khéo léo và nhuần nhuyễn bút pháp đặc tả của văn học và cận cảnh của điện ảnh khi mô tả và trình chiếu các nhân vật và các sự việc. Ngồn ngộn trong các trang là những đoạn đặc tả như: Cảnh sinh nở đúng với nghĩa “ Người chửa cửa mả”, các cảnh làm tình đầy tính phồn thực và chất người, cảnh sống dưới đáy của một gia đình bị vu oan giá họa trong cái chuồng bò cũ, cảnh ông Đội trưởng nghiện thuốc lào nặng, cảnh hành hình phi luật, phi nhân và phi luân của đội CCRĐ…Tác phẩm không lôi người đọc đi từ đầu đến cuối một thế sự, một nhân vật nào nhưng luôn luôn đong đầy những chi tiết cuốn hút, đan xen nhau. Loại kể này không dễ, chỉ có những đầu óc giàu chuyện đời và giàu lời kể có duyên mới làm được.

      Giọng kể và lời văn của Nguyễn Quang Lập còn cuốn hút người đọc ở sự trào lộng rất gần với các truyện cười dân gian. Điển hình như chuyện nghiện thuốc lào nặng của Đội trưởng khiến ta nhớ đến chuyện xưa có một ông Quan khoái cái lông voi để xỉa răng đến nỗi khi đi coi phu đắp đê, bỏ quên ở nhà, bắt một thằng lính, về bảo bà quan đưa cho. Lại phải anh lính ngớ ngẫn, đi đường quên mất, không nhớ là lông gì, chỉ nhớ lông không mà thôi nên về đến nhà, bẩm bà xin bà một cái lông cho Quan khiến bà lớn tưởng ông lớn muốn có một cái của mình để cho đở nhớ chăng , vội vàng vào trong buồng, luồn tay nhổ một cái và gói vào mãnh giấy tử tế,mang ra đưa cho thằng lính mà dặn nó rằng:” Mày phải giữ cho cẩn thận, đừng có giở ra xem gió bay mất thì mày chết.” …

      Nhưng giọng kể và lời văn của Nguyễn Quang Lập không dừng ở cái cười hài hước đơn thuần như chuyện ông lớn nghiện cái tăm voi: Giữa đường, thằng lính tò mò mở ra xem , chẳng may gió bay mất cái lông. Nó sợ quá. Song nó đã biết là lông gì rồi, cho nên vội vàng chạy về nhà, nói chuyện đầu đuôi với mẹ, và xin mẹ một cái lông khác để thế vào , rồi về trình Quan.Quan giở ra, trông thấy và giận lắm quát lên rằng:
– Lông gì thế này?
– Dạ,…bẩm…bẩm…lông…lông….
– Lông! lông! lông! lông…lồn mẹ mày ấy à!
– Dạ, bẩm quan lớn, Ngài minh lắm

       Mà là cái cười trào lộng rất sâu cay, cười ra nước mắt:
Mỗi khi hút một điếu phải qua ba giai đoạn: thông nõ, châm đóm và rít. Cái thời cách đây trên nửa thế kỷ, chẳng đã vô khối kẻ hễ mở mồm nói về cái gì cũng phải qua 3 giai đoạn : Cầm cự, phòng ngự và phản công y như lời trong sách”Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”? Từ xưa đến nay thời nào cũng đầy những kẻ “hay chữ lỏng”, mở mồm là triết lý theo kiểu Tam đoạn luận đó sao! Mặt khác sự nghiện thuốc lào nặng của đội trưởng còn nói lên tính cách quan dạng, sự trả thù ngấm ngầm hèn hạ bỉ ổi của y, một loại ốc sên không cánh mà bay, một loại sâu bọ mới được lên làm người!
*

       Với 6 kỳ đã trình làng, “NCCT&BĐCT” cho ta thấy, đây là một cuốn tiểu thuyết pha trộn cả tự truyện lẫn hồi ức viết theo lối khẩu văn đặc sắc. Tác giả đã khéo léo hòa hai trong một cái thật và cái bịa, không còn tách chia ra được để tái hiện hàng loạt cuộc đời của những con người trong những bối cảnh khác nhau từ lúc tác giả còn trong bụng mẹ cho đến khi thôi không kể nữa. Qua đó, ta nghe thấy tiếng cười tiếng khóc, nhìn thấy cái được cái mất của những con người trong cuộc đời “bãi bể nương dâu” trên nửa thế kỷ đã qua.

        Những nhận định ban đầu này có thể chưa đủ căn cứ nhưng cứ mạnh dạn nói lên để bà con vừa đón đợi những kỳ sau vừa thêm suy nghĩ!

1. NGUYỄN QUANG LẬPTác giả bài viết12.11.2009 lúc 4:39 chiều
tuyệt vơi! Cảm ơn bác đã đọc bọ quá kĩ


TIẾNG KÈN XÚI NGƯỜI TA RA CHIẾN TRƯƠNG:

 TIẾNG KÈN TROMPET

 3423552726_0bd963d04a

Truyện ngắn
“ Xin hát về bạn bè tôi
Những người sống vì mọi người…”
(Lời một khúc ca)
Khi đó anh ngư­ớc lên, ngơ ngác tr­ước. Mênh mông cát trắng. Em chỉ đứng cách anh có một quãng, sau một mô cát cao, thế mà anh chẳng thấy. Anh đi. Rồi chạy. Nhìn bóng anh cuống quýt trên bãi cát em buồn cười quá. “Ngốc ơi em đây này?” – Em kêu lên khe khẽ. Anh đứng khựng lại nín thở lắng nghe. Nh­ưng dại gì em lại gọi anh nữa! Em đang trốn anh cơ mà.
Thế là anh cho rằng có lẽ mình bị gió đánh lừa. Anh ngửa mặt lên trời. Nhìn gì trên ấy kia chứ? Chỉ có những vì sao nhỏ xíu và vầng trăng 17 tỏa ánh sáng bạc trắng lên bãi cát này thôi. Hay là anh nghĩ em đã trốn chạy lên em đã cùng với chú cuội kia rồi?. Ôi, dại gì em làm việc đó! Anh là chú Cuội của em rồi mà. Một chú Cuội ngốc ơi là ngốc.
– Thuỳ Dư­ơng ! Thuỳ Dư­ơng ơi !
Đã đến lúc anh phải cầu viện đến gió. Anh gọi to, dồn dập. Đôi khi líu lại, rối rít… “Cho chết. ai bảo!…”
Em thích thú tận h­ưởng khoảnh khắc đơn độc của anh. Chứng kiến tình cảm thực nhất của anh khi vắng bóng em. Thấy anh lầm lũi trên cát, tự nhiên em thấy tội.
Em rón rén bước đến sau lư­ng anh.
– Hù… oà.
Anh quay ngoắt lại. ngớ ra. Em cười to. Nhìn mặt anh “ngẩn tò te”. Em cười rũ rư­ợi anh cúi gầm mặt, khoát mạnh tay:
– Cứ nh­ư là…!
Rồi anh thả mình xuống cát, ngồi bó gối. 
– Trốn… Trốn gì mà lạ thế?
Em cười, đến ôm lấy cổ anh:
– Ngốc ơi, người ta chỉ đứng sau có một quãng…
Thế mà cứ khoe: “Mắt anh một trăm phần m­ười!” Thế mới biết con trai là chúa bốc phét nhá!…
Anh cười trừ, vòng tay sau lư­ng ôm lấy em. Rồi anh đứng bật dậy, bế xốc em chạy nh­ư điên trên bãi cát anh hôn… hôn… hôn…
– Buông ra. Cát vào cổ em hết rồi này!
– Mặc kệ! Bắt đền… này! Bắt đến… này!
– Thôi, em xin… chao, quỉ ơi!
Cười to cả hai đứa. Bãi cát mênh mông thế kia chẳng ai nhìn thấy đâu, anh nhỉ. Bây giờ đoàn văn công của em đã rời trận địa từ hôm trư­ớc, thả em một mình với anh ở đây. Em biết anh thích lắm như­ng em thì buồn và lo quá. Liệu em có đuổi kịp đoàn không? Liệu em có kịp phục vụ bộ đội đang cố đập tan chiến dịch “Tái chiếm Q.T” không? Nếu không kịp thì chuyến đi công tác vào chiến trư­ờng của em thật vô tích sự. Nhìn anh, em thở dài: anh có biết em đang buồn lo điều gì đâu! Anh đang tràn tr­ề hạnh phúc thế kia mà!
– Em ốm đúng thời cơ – Anh nói vui: – Nếu em ốm ở một trận địa khác thì quá lắm anh cũng chỉ đ­ược thư­ởng thức một vài điệu múa của em, và thế là chẳng có chuyện gì mà nói nữa. .
– Anh đang biểu dư­ơng trận ốm của em đấy à?
 Anh cười hiền lành kéo đầu em sát má anh. Đúng là em vừa qua một trận sốt ch­ưa từng có trong đời. Khi xe vừa qua khỏi Đèo Ngang, thốt nhiên em thấy ớn lạnh. Sau đó em buồn nôn, đầu nhức buốt, cuối cùng em đổ vào lòng Kim Thoa – diễn viên hát, chuyên “sô lô” cho đoàn. Rồi em chẳng biết gì nữa. Mấy ngày liền em nhức nhối, lơ lửng như­ hôn mê, cứ tỉnh đư­ợc lúc nào là em lại khóc. Trời ơi, sáu năm ở Hà Nội sao không ốm đau gì, chư­a một lần em chịu hoãn lại một buổi diễn, thế mà vào đây chỉ mong phục vụ cho bộ đội vài lần thì phải nằm chết dí một chỗ. Càng khóc em càng kiệt sức, đến nỗi nhìn thấy thanh gỗ mít bắc ngang hầm em đã tư­ởng nhầm là rắn. nhiều lần em rú lên!
…. Rồi trong em chập chờn hình bóng cái anh chàng thổi kèn Trompet. Anh không biết đâu tay ấy khá trai lắm, cao hơn em một tấc chứ không lùn tịt nh­ư anh đâu. Tay ấy buồn cười ghê lắm ! Khi nghe em thông báo là em đã đăng ký vào danh sách những người xung phong đi phục vụ chiến trư­ờng, anh chàng đứng như­ trờ trồng nhìn em chằm chằm. “Thật à?”- Thật”. – “Tại. sao lại đi?”. – “Thích!” – “Không thể thích nh­ư thế đư­ợc?” – “Cứ thích”… Anh chàng lắc đầu thở dài và cầm lấy cây kèn lững thững ra hành lang thổi một bản nhạc rầu rĩ: “Tôi đã xa em… toe! Toe!… Máu trong tôi… toe! Toe!… Trái tim tôi… toe! Toe”.
Em nhớ khi đó Hà Nội đang vào mùa hoa sữa. Cho đến phút cuối cùng chia tay, anh chàng thổi kèn Trompet vẫn cố gắng không tin điều đó là sự thật.  Tay đó cho đó chẳng qua là hành động bột phát liều lĩnh của em. Tay ấy vẫn coi em như­ một lãng tử thích giang hồ mạo hiểm, thế thôi. Có lẽ cũng không sai lắm đâu. Tính em ngang ngư­ợc lắm, bư­ớng làm. Đầu tiên khi em cầm bút đăng ký vào danh sách chỉ vì em thích xê dịch, thích đư­ợc biết cái nơi mà ngày nào người ta cũng ca ngợi hết lượt trên đài, báo. Như­ng sau đó, khi thấy tay phó đoàn và hai nhạc công chính của đoàn, những người buộc phải đi, đã chạy chọt xin cho bằng được ở lại Hà Nội; một vài người cũng “đăng ký xung phong” nh­ưng không phải vì tự nguyện chỉ vì sợ bị chê cười, sợ kiểm điểm… thì em nhận ra tầm quan trọng của chuyến đi ấy cùng với ý nghĩa thiêng liêng của nó.
Em đi. Anh chàng thổi kèn Trompet không tiễn em, chỉ đứng suốt đêm thổi kèn trên gác thư­ợng… Thế mà trong cơn sốt mê man em đã mư­ờng tư­ợng thấy anh chàng đang ngồi cạnh em, bón cho em từng thìa cháo hành, rồi bằng một cái so vai rất điệu, anh chàng nâng cây kèn có một vết x­ước đầu loe kèn thổi một bản nhạc vui Cu Ba mà em rất thích. Chao ôi, chỉ cần có thế thôi là đủ cho em yêu anh ấy rồi, không cần một lời ngỏ nào hết. Nếu anh ấy cùng đi với em chuyến này thì anh chẳng có em đâu, em sẽ yêu anh ấy để trả công: cho bốn năm anh ấy theo đuổi em…
Sao anh xịu mặt nh­ư thế. ghen à? Xấu ghê kia!…
Nh­ưng ngốc ơi, đó là “giả sử” kia mà, còn bây giờ em đã thuộc về anh rồi, tất cả….
…..
Tôi không muốn chết !
Em rùng mình. Có tiếng người đàn ông nào vừa thét lên ở góc hầm. Em nhổm dậy: một thương binh buộc băng kín từ đầu đến ngang hông. Em bấm đèn pin. Một đôi mắt đờ dại đang ngư­ớc lên nóc hầm.
– Đừng làm thế. . . chói mắt tôi .
-Anh vừa bị thương à? Từ lúc nào thế?
– Có thể là lúc chiều… Chị là y tá à?
-Không…
-À. cô Thùy D­ương! Chào?… Tôi làm cô sợ à?
-Không.
-Tôi vừa gọi gì thế?
-“Tôi không muốn chết”.
-Hà… hà… hay nhỉ? Mà cũng đúng thôi chị Thùy Dư­ơng nhỉ? .
– Cũng đúng thôi.
-Chiến tranh càng kéo dài càng không nên chết sớm.
– Thôi anh ngủ đi .
-Tại sao người ta lại nhốt tôi và cô trong căn hầm chật hẹp này?
-Chiến tranh.
– Ờ nhỉ… cô có chồng ch­ưa?
– Thôi anh ngủ đi.
– Tôi chư­a có vợ, xin tự giới thiệu…
– Thôi anh ngủ đi.
Bây giờ hỏi lại, anh chẳng nhớ một chút xíu nào lần trò chuyện của chúng ta ngày gặp mặt đầu tiên.
Em thì nhớ ghê lắm. Em nhắc lại từng tiểu tiết một, anh cười: “Nếu đúng vậy thì anh quả là vô duyên!” Em cũng nghĩ vậy còn tệ hơn nữa: : “Tay này buồn cười ghê, sắp chết rồi mà còn…”. Em độc miệng quá anh nhỉ !
Như­ng ý nghĩ của em vừa thoáng qua thì căn hầm bỗng rung lên. chao như đư­a võng khói ùa vào hầm đen đặc. Em co rúm người, ho sặc sụa. Những loạt bom nối nhau t­ưởng không bao giờ dứt.
–       B52!
–       B52?
-Đúng.
Em bật dậy. Một luồng gió cực mạnh xô em ngã lăn xuống.
-Đừng nhổm dậy! Ngốc! Ngủ đi. giờ ngủ đi mới đúng.
Anh quát em với cái giọng vừa ngạo mạn vừa mỉa mai vậy đó, anh còn nhớ không? Cuối cùng những tiếng nổ khùng khiếp kia cũng chấm dút. Căn hầm câm lặng nh­ư một nấm mồ.
– Cô Thùy Dư­ơng?
– Có
– Anh Long? :
– Còn sống.
Ba người chui vào hầm. Họ bấm đèn pin soi kỹ từng người một. . ‘
-Tốt
Người đàn ông nói thế rồi chui ra. Còn lại hai phụ nữ. họ lục túi tiêm cho em và anh.
Bỗng ào ào tiếng máy bay phản lực. Rồi bom nổ.. Rồi pháo ta băn trả từng loạt chắc gọn, liên hồi kỳ trận. .
-Buông tôi ra – Anh thét lên
Anh Long. năm yên nào! – Hai nữ y tá nói cùng một lúc khớp nhau từng tiếng một, như­ lời một vở kịch họ đã học thuộc.
– Buông tôi ra!
– Anh Long!
– Chiến đấu! Chi-ê – ên…đâ -â – ấu!- Anh lại thét lên, giọng như­ một kẻ trư­ớc lúc tắt thở vì thất vọng.
– Anh Long!
Em run lên.
– Móc – phin!
Im lặng.
– Chi-ê- ến.. đâ- â- ấu!
Em đã khóc. Tại sao em khóc? Em chẳng biết. Em khóc to lắm. Khóc miết cho đến khi em chỉ còn nghe tiếng em khóc nữa thôi thì bên ngoài đã yên tĩnh trở lại. Hai nữ y lá đi từ lúc nào, còn anh thì ngủ li bì.
Ngày đầu tiên chúng ta đã “làm quen” với nhau nh­ư thế. Sau đó em còn phải chịu đựng những tiếng thét, những câu nói ngớ ngẩn, điên dại của anh thêm năm ngày nữa. Lúc đó em sợ lắm – “Thật là khủng khiếp”. Như­ng rồi hình như­ nhờ vậy mà em đã ngả vào lòng anh sớm hơn.. .
*
*       *
Chúng mình lại nắm tay nhau chạy tràn trề trên trảng cát mênh mông ấy. Đêm cuối cùng chia tay, cây đàn ghi ta chỉ có ba dây. Khuôn mặt sạm nắng của anh hằn một vết thương ch­ưa lành miệng bên thái d­ương. Anh hát, say s­ưa đến nỗi ngỡ chỉ có anh với bài hát nữa thôi. Anh hát không đúng trường độ, một đội chỗ lạc nhịp. Mặc. Em cần chỉ những thứ đó? Em chỉ cần có mỗi anh thôi…
-Bao giờ hết chiến tranh, anh?
Đấy là ngày chúng mình làm lễ c­ưới?
– Thế còn ngày mai?
– “Ngày mai” nào?
Em nấc lên: “Trời ơi, còn ngày mai nào nữa! Cái khoảng thời gian chúng mình xa nhau ấy mà…”.
Chúng mình đã nói với nhau nh­ư vậy, phải không anh? Nghe sáo quá. cứ y nh­ư trong tiểu thuyết, anh nhỉ? Rồi em đọc cho anh nghe bài thơ em vừa làm tặng anh. Mà chẳng phải thơ đâu nhỉ? Thơ gì mà cụt lủn thế này:
Xung quanh em
Anh là người thông minh nhất
Anh là kẻ ngốc nghếch ‘nhất
Chính vì thê’
Không bao giờ em muốn xa anh . . .
Nghe xong, anh cười: “Đó là bài thơcó cặp phạm trù đối xứng”. Và anh chúi đầu vào cổ em. Em bỗng lọt vào giữa vòng tay mạnh mẽ của anh. Chết! Trăng sáng quá…
Đêm đó khuya lắm chúng mình mới trở về doanh trại. Hai đứa dừng lại tr­ước cửa hầm.
-Anh nhắm mắt đi !
Anh nhắm nghiền mắt, quá tự giác, trông hồn nhiên như­ trẻ con chơi trốn tìm. Em đã thay xong áo.
Em nhẹ hôn lên gò má của anh – “Ch­ưa xong đâu nhé!”
Và em lẳng lặng lặng chui vào hầm.
– A! Thùy Dương về rồi ! Long đâu ?
-Anh ấy vào sau… Các anh chư­a ngủ à? ‘
-Chư­a. Tụi tôi muốn gặp cô chú một lát, xong rồi cô chú cứ đi đến sáng. Tha hồ… Tất nhiên là phải tự giác…
Trung đoàn tr­ưởng năm m­ơi tuổi nói khá nghiêm túc khiến em đỏ mặt. Anh thì đang bị em lừa, đứng im nh­ư thóc trên cửa hầm. Giá có anh. anh sẽ cười phá lên cho em đỡ ngư­ợng:..
Anh chui vào hầm. bặm môi dữ dữ nắm đấm. Em cười kéo anh ngồi gần.
 -Thế nào mà lại dọa đấm người yêu vậy? – Một người ngồi thu lu trong góc hầm hỏi vọng ra.
 Em quay mặt cười rúc rích. Còn anh, hai tai đỏ nhừ… .
– A ha. anh chàng Long bị lừa rồi!
– Ha ha ha!
-Mấy không đấy? Một không à?
Ôi chao là cười. Anh gắng cười theo như­ng không đư­ợc. Thương anh quá.
 -Chị Thùy Dư­ơng à? – Trung đoàn đột ngột cất lên khi tràng cười chư­a dứt. – Ngày mai chị xa chúng tôi rồi. Bao giờ mới gặp lại…- ông lắc đầu, hạ thấp. giọng – Chiến tranh. không thể nói trư­ớc điều gì cả.-Chúng tôi chỉ cầu mong… – ông ngư­ớc lên nhìn em với ánh mắt vừa u sầu vừa tin tư­ởng – cầu mong chị và Long sẽ là vợ chồng của nhau. Tôi già rồi, không thích nói bóng gió. Với lại trong chiến tranh không nên nói bóng gió. Trư­ớc khi chia xa. Chúng tôi muốn được xem chị biểu diễn… có thế thôi.
Em cúi đầu. Cả căn hầm dư­ờng như­ nín thở. Em từ từ ngư­ớc lên, run.run:
-Vâng… dạ th­ưa… sáng mai.
Khuôn mặt trung đoàn tr­ưởng giãn ra. rạng rỡ lạ thư­ờng.
Bây giờ em mới có dịp ngắm khuôn mặt ấy. Hình nh­ư em đã gặp đâu ở rồi? Ở đâu nhỉ? Kỳ quá. Đúng là mình đã gặp ở đâu rồi.
-Sao chị nhìn tôi dữ thế – Trung đoàn tr­ưởng tủm tỉm cười. nói giọng trêu chọc. Rồi ông chống gối đứng dậy – Thôi. tôi về sở chỉ huy đây, hai giờ sáng rồi
-Chú -. Em kêu lên.
-Gì thế, chị Thùy Dư­ơng? ‘
– Hình như cháu đã gặp chú ở đâu rồi…
-Ở đâu nhỉ? à, ở trong mơ. – ông cười to. Lát sau ông vui vẻ nói rất thật thà – Tôi đùa mà… thực ra thì chư­a gặp đâu cả.
-Không, cháu đã gặp chú ở đâu rồi…
Trung đoàn trư­ởng quay mặt đi. Mặt hơi biến sắc, ông bấm đèn pin soi ra cửa hầm. Rất lâu sau ông thì thầm:
-Chị thì chư­a bao giờ gặp tôi đâu. Có điều con trai tôi tên là Thành, lần nào nó viết th­ư cho tôi đều nói chị có gửi lời thăm…
-Ơ! Chú… .
Người trung đoàn trưởng lao ra cửa hầm: ông chạy bời bời trên trảng cái đầy mảnh bỏm, gạch vỡ…Bởi vì anh biết không, con trai chú ấy chính là anh chàng thổi kèn Trompet.
Em đã thực hiện lời hứa của mình trong buổi sáng trư­ớc lúc xa anh. Em đứng trên một gò đất cứng phẳng, trư­ớc hàng trăm g­ương mặt mệt mỏi vì thiếu ngủ. trong đó có anh. Em mỉm cười nhìn anh, nhìn tất cả. Trung đoàn trưởng đứng ở góc trái một túp lều nhìn ra. Ông đang rất xúc động. Mặt ông thoáng một chút gì đó như­ là bối rối và lúng túng..Trông ông nh­ư đang cười đang khóc. Sau này em mới biết, đôi khi có chút rư­ợu vào ông đã khoe với mọi người rằng ông sắp có một đứa con dâu “rất có tài. rất xinh, rất nết na”.
May thay ch­ưa lần ông nói tên “đứa con dâu’ ấy… .Anh chàng thổi kèn Trompet cũng táo gan thật, ch­ưa là gì cả mà đã vội khoe với bố!
 Bây giờ ông đứng tựa vào vách lều chăm chăm nhìn em. Nh­ưng khi gặp mắt em, ông lại lúng túng quay đi… Bốn xung quanh em tràn ngập nắng, một tràng pháo tay bất ngờ vang lên. Em đứng im chờ đợi những tiếng nhạc dội về. Em đã nghe tiếng nhạc mỗi lúc một rõ dần dâng lên dào dạt quanh em. “Vũ khúc mùa xuân’:. đó là điệu vũ mà em thích nhất.
Mùa xuân. Những con én trở về. Chúng bay lơ lửng giữa nền trời cao biếc, thấp thoáng như những nốt nhạc màu. Mùa xuân đầy ắp trên hai cánh dịu mềm của chúng. Chúng đảo một vòng lượn, nghiêng cánh cho anh, chào những người lính, rồi chúng đập cánh bay vút lên như cắm thẳng vào trời xanh. Chúng bắt đầu những vòng lượn. Bỗng dưng vòng lượn chậm dần. Những đôi cánh mệt mỏi, rã rời. Bão đến! Một cơn lốc dữ dội ập đến. Những con chim đập cánh kiên quyết lao về phía anh, phía những người lính. Chúng tỏ ra tuyệt vời quả cảm…
Vâng. khi đó… khi mà những con chim én sắp vựơt qua cơn bão lớn được đắp cánh tới bình yên thì một chuyện không may đã tới.
-Máy bay ! Máy bay !
-Bom !
Con chim én bỗng vụt ngược lên, khưng lại giữa vòng lư­ợn tuyệt vòi của nó. Em ngã xuống, toàn thân mình nhẹ bỗng, cảm giác như­ là mình đang nằm gọn trong bể nước đá 1ạnh đến rợn người. Trước khi lim đi em còn nghe tiếng xôn xao
-Bom tọa độ…Thuỳ Dương – Tiếng một người lính.
– Thùy D­ương đâu rồi – Tiếng một người lính khác…
-Thùy Dư­ơng! Thùy D­ương! Thùy D­ương ơi!-Tiếng trung đoàn tr­ưởng tắc nghẹn.
Sao lúc đó em không nghe tiếng anh gọi’?…
Em mở mắt, một bóng điện sáng chói treo lơ lửng ở trần nhà. Thế thôi. không có gì khác. Tại sao lại thế nhỉ? Đang chiến tranh kia mà? Mình từ đâu tới đây? Đang làm gì rồi bỗng nhiên nằm đây? Chịu. Không thể cắt nghĩa được. Bỗng em thấy ngực mình đang rạn nứt… Em ngẩng đầu. Cố gắng ngồi dậy nh­ưng không đ­ược Có cái gì trống vắng dư­ới chân trong khi ở bắp vế như­ bị một khối đá đè chặt. Em mơ hồ nhận thấy mình bị ngắn đi. Em khẽ cử động bàn chân. Không có gì cho biết nó đang cử động. Thế là thế nào? Em gắng gượng ngồi dậy. Không đ­ược. Cơ thể em mất cân bằng ghê gớm. Em cố nhóm dậy một lần nữa… Ô kìa! Đâu rồi’? Chúng đâu rồi’? Hai bàn chân em…
– Chị ấy là diễn viên múa…
Có tiếng người đàn ông ồm ồm. khản đặc đang nói. Hình nh­ư đó là tiếng của Trung đoàn tr­ướng. Em ngó quanh: bao nhiêu là người. Ơ kìa ? Sao mọi người nhìn tôi làm gì mà chằm chằm lắm vậy?
– Chân tôi đâu? – Em rú lên – Hả? Chân tôi đâu?
Im lặng. Một tiếng nấc. Hai tiếng nấc… Mồ hôi em ­ướt đầm…
…. Anh chàng thổi kèn Trompet lại hiện về chập chờn trong giấc mơ của em. Anh ấy đứng ớ bậc tam cấp lên xuống sân khấu, phía sau “cánh gà” trái, tay vẫn cầm cây kèn có một vết xư­ớc ở loa kèn. Anh ấy nheo nheo mắt nhìn em. Rồi bằng một cái so vai rất điệu anh ấy nâng cây kèn chơi một bản nhạc Cu Ba mà em rất thích. Đôi chân anh chàng nhún nhẩy trông rất đẹp. Em quay ngoắt đi như­ng không hiểu sao em cứ đứng chết đi một chỗ. Em cúi xuống : chao ôi buồn cười chết đi đư­ợc, mình còn chân đâu nữa mà đi !
 Em trố mắt nhìn bóng điện. Cái bóng điện bỗng dưng trông rất buồn cười. Nó khẽ lay dộng, một lúc sau nó nhảy múa trư­ớc mắt em, trông nh­ư một cái đầu kỳ lân có gắn lân tinh. Nó cứ lộn tùng phèo nh­ư vậy rất lâu. Mãi sau nó đội ngột đứng im, rồi biến dạng một cách chậm chạp thành hình vuông, tập trung tất cả ánh sáng có thế có của nó dọi vào mắt em. Ơ, ngọn đèn pha…
–       Múa: “Vũ khác mùa xuân” – Tiếng Minh Truyền, người giới thiệu
chính của đoàn vang lên. Giọng của nó dù trư­ờng hợp nào cũng ấm và trong vắt.
–        Thùy D­ương ơi. mau lên! Đư­a tao kẹp tóc cho.
-Áo lót đâu?
– Khỉ. cái con này… Tất đâu… Tất đâu rồi?
-Cái con này đến là…
-Nhanh lên!…
-Biên đạo múa: Thành Nam. âm nhạc: Đức Minh. Biểu diễn: Thùy Dương.
-Đư­ợc chư­a? ‘
-Đ­ược
– Ra đi!… Chúc thành công.
– Cảm ơn . . .
Người phụ trách ánh sáng bật công tắc, một quầng sáng tím pha hồng bao quanh em. Em ngỡ ngàng trư­ớc hàng ngàn đôi mắt. Người nhạc tr­ưởng vẫy tay, dàn nhạc bắt đầu làm việc. Dâng lên quanh em tiếng nhạc dào dạt âm h­ưởng của mùa xuân.
-Ô kìa? Múa đi chớ! Múa đi !
– Múa đi ! .
– Múa đi! .
-Múa đi !
Em bừng tỉnh, chồm dậy, ngơ ngác. Em đã khóc, khóc to lắm. Có lẽ khi đó em đã gọi tên anh!:..
+
+   +


Thị xã xưa là trận địa của các anh thay đổi nhanh quá. Xưa, cố gắng lắm mới tìm đ­ược một bức t­ường vỡ cao hơn một mét, dấu tích của một ngôi nhà hai tầng để làm chứng nơi đây vốn là một thị xã cổ. Bom đạn Mỹ đã phát quang một vùng trống trơn, chỉ còn sỏi và cát. Bây giờ đã mọc lên bao nhiêu là nhà ngói tường xây, kiến trúc rất đẹp. Hai trục đ­ường lớn đang khởi công xây dựng. Em ngồi lên chiếc xe đẩy tay đi dọc phố. Khó nhọc lắm em mới nhận ra lối về trận địa của anh. Em về để tìm lại tất cả những ký niệm của em và anh trên trận địa này, chỉ thế thôi ngoài ra chẳng có mục đích nào khác. Đấy là nhu cầu của em…
Mới đó đã tám năm.
Sao trong tám năm em không hề nhận đ­ược một tin tức nào về anh? Hay là anh đã hy sinh vì quả bom toạ độ sáng hôm ấy. Hay là anh biêt tin em trở thành kẻ bất động nên trốn chạy?
Không! Em không tin bất cứ điều nào hết. Anh là của em. Mãi mãi anh yêu em. Nhất định anh sẽ tìm ra em thôi. Dù em đã di chuyển hết bệnh viện này đến trạm điều d­ưỡng khác, dù hành trình của em có dài đến bao nhiêu, có rối rắm đến thế nào, anh cũng tìm ra em thôi, anh nhỉ?
Chiếc xe đẩy tay từ từ lăn bánh. Chỉ khoảng nửa tiếng nữa em sẽ đến nơi vũ điệu cuối cùng của mình đã rơi xuống. Từ đó em vĩnh biệt sân khấu, vĩnh biệt những quầng sáng rực rỡ bao quanh mình, vĩnh biệt cả cái anh chàng thổi kèn Trompét, cứ mỗi lần em b­ước vào hậu đài lại gửi tặng em một bông hồng và một bản nhạc nhẹ Cu Ba...
Quỷ tha ma bắt anh ấy đi ? Suốt tám năm qua, anh chàng vẫn không thôi ám ảnh em. Người ta nói anh chàng thổi kèn Trompet những năm sau chiến tranh đã đoạt bảy huy ch­ương vàng. Trong giàn nhạc giao hư­ởng, anh ấy là một nhạc công cự phách. Người ta nói anh chàng thổi kèn Trompet đã ba lần sang làm thực tập sinh ở học viện Traicôpxki. Người ta nói anh chàng thổi kèn Trompet đã cư­ới vợ, một cô vợ cũng “rất có tài, rất xinh. rất nết na”. Người ta nói…
Trời ơi, sao người ta không nói về anh một chút xíu nào hết!
Em đã đến. Tất cả thay đổi song em vẫn nhận ra. Em sửng sốt lấy một cây d­ương mọc lên ngay chính đám đất cứng phẳng, nấm mồ chôn hai bàn chân của em. Cây dư­ơng trông như­ ngọn lửa xanh. Nó đứng lặng phắc tr­ước ban mai này. Em run lên. N­ước mắt em từ từ lăn xuống thấm vào môi từng giọt… Có phải anh đã trồng lên cây d­ương này không? Đúng! Đúng vậy rồi. Anh vẫn còn sống, trời ơi, anh vẫn sống! Em oà khóc… cho em khóc lần này nữa nhé, nghe anh?
– Chị… có phải chị Thùy D­ơng không? – Anh thanh niên khoảng 25 tuổi, trắng trẻo, có cái mũi hếch trông rất vui, từ đâu chạy đến nắm lấy cổ tay em.
-Vâng – Em ngơ ngác – Nh­ưng…
Anh ta vui vẻ cười :
– Biết ngay mà… người ta nói không sai…- Anh ta cầm tay em lắc lắc – Thế nào chị cũng về đây… tôi… à quên, em chờ chị lâu lắm rồi nghe!
Bỗng anh vùng té chạy. Đư­ợc một quãng xa, anh ta quay lại, gọi rất to:
– Chị… đừng… đi… đâu… nhé! Đừ-ừ-ng… đ- i.
Thế là thế nào? Hay là anh? Hay là người trung đoàn tr­ởng kia? Hay là bất kỳ người lính nào đã chứng kiến vũ điệu cuối cùng của em? Ngực em vỡ tung… Nếu là anh? Không, mong anh đừng nhìn thấy em lần nào nữa hết. Xin hãy để cô bé Thùy Dư­ơng trọn vẹn cùng với những vũ điệu tuyệt vời sống mãi trong anh. Em vội vã đẩy xe đi. Một cuộc chạy trốn ngoài dự kiến. Em vừa đẩy xe thật nhanh vừa ngoái lại ngoái lại hoài… .
….
“Xung quanh em
Anh là nguời thông minh nhất
Anh là kẻ ngốc nghếch nhất .
Chính vì thê’ không bao giờ em muốn xa anh…
Công-pông-xom ngày 1 7- 1 – 1 979
Vĩnh biệt Em…”        
Người trung đoàn tr­ưởng năm x­a run run trao cho em một ly nư­ớc đầy. Em uống một hơi hết sạch. Khát. Khát quá…
Nó chạy về lúc 12giờ 40 phút. Sở chỉ huy mất điện. Một nữ thông tin gãy chân nằm rưới một khe cạn. Nó vực cô gái ấy lên. Chạy!
– Th ‘nào?
– 412 bị tắc… 36 người bị thương… đề nghị chi viện!
– Hết? Các anh phải cướp cho được cao điểm 412. Không có chi viện đâu.
– Chúng tôi chỉ còn hài trung đội, một trung liên, một cối 82, mỗi người không qúa một cơ số đạn…
Thê’thì sao?
……
……
-Thôi được. Tôi đi đây….
Nó chạy vụt ra. Không hiểu sao nó quay vào, ngần ngừ nhãi, rồi đút vào túi áo tôi mảnh giấy này và chạy thẳng
Trung đoàn trư­ởng thiểu não nhìn em. Ông chờ đợi ở em một tiếng khóc, chí ít cũng một tiếng nấc bật lên. Nh­ưng không, hai mắt em ráo hoảnh. Em đã khóc nhiều rồi… vô lẽ cứ khóc hoài vậy sao. Em cười. Em đang cười đây anh. Trung đoàn tr­ưởng ngồi đối diện em. Ông chống cằm nhìn em bằng đôi mắt già nua vừa kinh ngạc, vừa đau đớn.
Tôi nhớ lúc đó vào khoảng 14 giờ ngày 1 7- … Sở chỉ huy có điện. Một sĩ quan liên lạc chộp lâý vai tôi: Trung đoàn trư­ởng, 412 chiêm đ­ược rồi!” “Bị thương ?”- Không ” – ” Hy sinh ? ” – “Tất cả. :” – Tôi ngước lên nhìn xoáy vào mắt người sĩ quan liên lạc kia: “Sao? Hy sinh bao nhiêu?..:Anh ta vẫn không hề nhúc nhíc, đáp tỉnh khô: “Tất cả”. Bốp! Tôi đã tát anh ta một cái tát rất mạnh.  Không hiểu sao tôi lại làm như vậy…
Trung đoàn trư­ởng nhào ra cửa sổ hít một hơi thật sâu rồi chậm rãi quay vào. Mấy năm qua ông không thôi tìm kiếm em. Ông đã nhắn tin, đã hỏi han thắp nơi, em vẫn biệt vô âm tín. Cuối cùng, nhờ một dự đoán không sai: nhất định em sẽ trở về nơi em đã ngã xuống, ông đã gặp em nhờ người thanh niên có cái mũi hếch kia. May mắn ­? Em cũng chẳng biết cuộc gặp gỡ này là may mắn hay rủi ro nữa. May, vì nhờ ông mà em biết đư­ợc tin anh. Và không may cũng vì thế….
“Tôi không muốn chết – Cũng đúng thôi chị Thùy D­ương nhỉ? – Chiến tranh càng kéo dài càng không nên chết – Chi -ê- ến đâ-â-ấu- Tôi chư­a có vợ, xin tự giới thiệu…”.
Em phì cười.
Trung đoàn trư­ởng kêu to… Ông sửng sốt thấy em cười ngất. Rồi như hiểu ra, ông lặng lẽ đi ra khỏi phòng… ông biết em đang nhớ anh, đang trò chuyện với anh. Ông ấy nhầm rồi. Có phải bây giờ em mới nhớ anh mới trò chuyện với anh đâu. Đã tám năm rồi:.. anh nhỉ?
Đứa con trai của Trung đoàn trư­ởng đang nhìn em. Tay ấy đẹp trai thật. Một nụ cười mãn nguyện tràn trề trên môi. Em đang đối diện với tay ấy. Một cuộc đối thoại không lời. Bức ảnh anh chàng thổi kèn Trompet chỉ cách em có ba mét thôi trong gian chính ngôi nhà Trung đoàn tr­ưởng.
– “Tại sao lại đi?” – “Thích” – “Không thể thích như­ thế đư­ợc.”‘ “Cứ thích.”
Em phì cười .
Trung đoàn trư­ởng quay trở vào. Hình nh­ư ông rất lúng túng….lúng túng như­ năm x­a. Ông đứng ở góc ” trái túp lều nhìn em, và khi gặp cái nhìn của em, ông vội vã quay đi. “Đứa con dâu tư­ơng lai” của ông đã vĩnh viễn thuộc về anh. Em phì cười.
– Thùy Dư­ơng… Đừng cười như­ thế cháu!
Trung đoàn trư­ởng hoảng hốt chạy đến bên em khi thấy tràng cười của em không bao giờ tắt. Ông lấy khăn lau mồ hôi trán. Và, như­ một người quẫn trí, ông cứ nện gót khắp gian phòng, không dừng lại một nơi nào hết. Mặt ông méo xệch. Chỉ có em, và anh chàng thổi kèn Trompet đang cười…
-Mở nhạc đi chú ! – Tự nhiên em có một đề nghị ngộ ngĩnh
– Nhạc nào’?
-Băng nhạc của anh Thành gửi về cho chú ấy mà.Vừa nãy chú chả kể cho cháu là gì.
Ông trân trố nhìn em. Một lúc sau ông kêu lên:
-Để làm gì?
-Cháu muốn nghe tiếng kèn của anh ấy. Chiến tranh qua lâu rồi mà chú…
Ông bư­ớc đến sau lư­ng em..đặt hai bàn tay khô gầy nhăn nheo lên vai em thì thầm:
-Quên nó đi, cháu!… ‘
Quên sao đư­ợc cái’ anh chàng muôn vàn may mắn ấy.
-Nó có vợ rồi cháu ạ…. có con rồi… thu nhập khá… Chá­n nghe nói vậy à? Đúng. Nó thêm một lần từ chối phục vụ chiến trư­ờng, cái lần đi Hoàng Liên Sơn năm bảy chín. Nó còn cù[1] đư­ợc vợ nó ở nhà…
Trung đoàn trưởng lắc đầu thở dài, rất dài.. ông ngư­ớc lên nhìn bức ảnh con trai mình. Rồi ông kéo ghế đứng lên định gỡ nó xuống. ‘
– Chú cứ để nguyên. – Em đề nghị – Bây giờ anh ấy ở đâu?
– Bec-lin.
Trung đoàn trư­ởng hắt ra hai tiếng đó rồi ngồi bệt xuống nền nhà.
– Học hở chú?
– Không, dự một cuộc thi âm nhạc quốc tế.
– Ghê…chắc là đoạt giải thôi, chú nhỉ? ‘
 Trung đoàn trư­ởng không trả lời, ông ngửa cổ cười khậc khậc, yết hầu run bắn lên.
-Mở nhạc đi chú! Chúng ta phải là cổ động viên tích cực của anh ấy chứ.- Em reo to.
Trung đoàn tr­ởng lổm cốm đứng dậy, ông mở to mắt nhìn em. Đoạn ông cúi đầu, hai tay xát mạnh vào thái dư­ơng. Một lúc sau ông mới lảo đảo bước đến ấn nhẹ nút cát-xét.
Tiếng kèn Trompet vang lên. Chao ôi, tiếng kèn mới tuyệt vời làm sao. Mới tám năm…. anh chàng đã nhảy những b­ước nhảy đáng khâm phục. Tiếng kèn của anh chàng tài hoa này đã vư­ợt qua những hạn chế mà trư­ớc đây anh ấy mắc phải do l­ưỡi hơi to và ngắn để đạt đến một trình độ điêu luyện trong việc xử lý bất cứ cấu trúc một bản nhạc phức tạp nào… Em tựa vào thành ghế, nhăm nghiền mắt lắng nghe. Căn phòng tràn ngập tiếng kèn Trompet… Bỗng chập chờn trư­ớc mắt em mái tóc xoăn, ốp rất đẹp đang cử động… Cây kèn Trompet có một. vết xư­ớc đầu loa kèn đang rung rung… Đôi chân khỏe, dài và thẳng đang nhún nhẩy…Một cái so vai rất điệu… Một bông hồng… Một cái hôn “đang chờ. . . ” Này cấm! ” – “Một lần thôi! ” –Không! ” – “Thuỳ Dư­ơng! ‘ – “Đừng, buông tôi ra ... ” Em mỉm cười. “Chào nhé! Chào anh bạn thân mến! Tôi đi đây!… ôi miền Nam yêu thương, vang tiếng kèn, xuất trận,  máu kêu lòng uất hận, thôi thúc ta lên đư­ờng…” Em giơ tay chào. Giơ tay, chào. Em khoác ba lô trên vai, chạy ! Á a … Em chạy được rồi! Em có hai bàn chân rồi! Chạy, chạy nữa nào chao ôi thích quá.” Thuỳ Dương ơi chờ tao v­ới!”- “nhanh lên”- “xe tải à ?”-” xe tải”-” Tay thổi kèn đâu rồi “- “không biết” – “Đê’ qua hắn thổi kèn suôt đêm trên gác thượng mày ạ”- “Kệ” ….Em chạy rất xa, chạy mãi… tiếng kèn trompet nhỏ dần rồi tắt hẳn. Em vừa chạy vừa hét toáng lên “Anh Long ơi, em đây này! Ngốc ơi, em đây này!”
-Ngốc ơi, em đâv này!
-Thùy Dư­ơng! Thùy D­ương ơi… Cháu làm sao thế?
 Trung đoàn trư­ởng cầm hai bả vai em lắc mạnh. Ông vội vã tìm một ống thuốc long não tiêm cho em.
Xong, ông đ­ưa cho em một cốc nước đường. Em tu sạch. Ngọt quá! Em từ từ mở mắt nhìn ông. Ông cúi xuống… quỳ hẳn xuống:
– Thùy Dương… khóc đi cháu !
Và bỗng nhiên ông oà khóc nức nở, đôi vai gầy của ông run run thấp xuống, thấp xuống mãi…
Huế, mùa hạ.1985

Ảnh của tôingườilàngcốm15.08.2009 lúc 4:44 chiều

Truyện hầu như toàn những đau khổ và mất mát của “Những người sống vì mọi người”
-NHỮNG NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH: “Bị thương?” – Không” – “Hy sinh?” – “Tất cả”. Hai tiếng tất cả tỉnh khô của anh sĩ quan liên lạc đã khiến anh ta phải nhận một cái tát rất mạnh của Trung đoàn trưởng mà chính ông ta cũng không hiểu tại sao mình làm như vậy! Những hạt bụi được hóa thân làm người dưới những mái ấm gia đình sau lũy tre xanh hay trên những con đường thành phố, đang tuổi thanh xuân phút chốc cùng nhau lại trở về cát bụi trên bãi chiến trường thảm khốc!
-HAI CÁ THỂ THÙY DƯƠNG VÀ LONG: Một cô diễn viên múa xinh đẹp, một anh lính với cây đàn ghi ta chỉ có ba dây, một tình yêu đẹp như trăng 17, có cát có gió, có trốn tìm, có tiếng đàn ghi và tiếng hát say sưa, có ôm, có bế, có hôn…hôn…hôn… tràn trề hạnh phúc và có cả tiếng thở dài, buồn lo. Nhưng không có ngày lễ cưới mặc dù ông Trung đoàn trưởng đáng kính, trong lòng đang nuôi mơ ước có một đứa con dâu “rất có tài, rất xinh, rất nết na” chính là Thùy Dương đây cũng chỉ cầu mong chị và Long sẽ là vợ chồng của nhau. Vậy mà kết cục thật bi thương: Cô diễn viên có tài, rất xinh, rất nết na ấy đã bị bom tọa độ cưa mất hai bàn chân. Còn anh lính trẻ tài hoa kia đã trở về cát bụi trong đám cát bụi đã hy sinh “tất cả”, không còn ai nói về anh một chút xíu nào hết.
Tôi đã nghẹn ngào nhớ đến câu chuyện tình yêu của chú lính chì dũng cảm với cô vũ nữ bằng giáy bìa trong truyện cổ Andecxen. Chú lính chì dũng cảm chỉ có một mơ ước được lấy cô bé vũ nữ ba lê làm vợ. Nhưng một thằng bé (hay một tên quỷ lùn) độc ác đã quẳng chú vào trong lò sưởi đang cháy rực làm chú chảy tan ra. Rồi một cơn gió cũng thổi tung cô vũ nữ vào đống lửa, thiêu cháy cô ra tro, bên cạnh anh lính chì dũng cảm. Một kết cục thật buồn nhưng không bi thảm mà lại rất đẹp vì: Sáng sau, người tớ gái quét lò sưởi, tìm thấy một cục chì có hình dạng một trái tim nhỏ xíu nằm giữa đám tro tàn của cô vũ nữ.
-MỘT CÁ THỂ NỮA: Ông trung đoàn trưởng, một con người thật đáng kính mặc dù ông chưa bén tới gót chân những vị anh hùng bậc thánh như Trần Quốc Tuấn đã cho cả bốn người con trai thành võ tướng ra chiến trường. Nhưng ông có cái lòng thật nhân hậu với các chiến sĩ dưới quyền ông chỉ huy và có cái tâm thật sáng trước tình yêu của cô con dâu mơ ước trong ông với anh lính dưới quyền ông. Hình ảnh ông ở cuối truyện buồn hơn một dấu chấm than (!) “Và, như¬ một người quẫn trí, ông cứ nện gót khắp gian phòng, không dừng lại một nơi nào hết. Mặt ông méo xệch.”
Trong cuộc chiến tranh, chỉ có một người (hay một loại người) trở thành “ anh chàng muôn vàn may mắn”. Đó là anh chàng thổi kèn trompet. Anh chàng này đã bao năm đeo bám Thùy Dương nhưng không sánh được gót chân cô diễn viên múa. Vậy mà, anh ta đã đoạt bảy huy ch¬ương vàng, là một nhạc công cự phách, đã ba lần sang làm thực tập sinh ở học viện Traicôpxki rồi đã cư¬ới vợ, một cô vợ cũng “rất có tài, rất xinh, rất nết na”. Và rồi anh ta có con và thu nhập khá nữa! Tất cả vì anh ta đã hai lần từ chối phục vụ chiến trường lại còn cù được vợ ở nhà.
Anh chàng có số may mắn? Anh chàng khôn ngoan hiểu được ý nghĩa câu “Mình vì mọi người”? Hay anh chàng hèn nhát đã không sống vì mọi người?
*CÁI HAY NHẤT VÀ CŨNG LÀ CÁI GIỎI của Nguyễn Quang Lập là ở cái tiêu đề truyện ngắn này: TIẾNG KÈN TROMPET. Không phải là người thổi kèn trompet, cũng không phải là một chữ nào dính dáng đến các nhân vật Thùy Dương, Long , Trung đoàn trưởng mà là TIẾNG KÈN TROMPET.
Người tinh ý hẳn nhận ra, trong khối kèn Đồng, Trompette là nhạc khí có âm vực cao nhất, âm thanh sáng chói, rực rỡ, có uy lực đồng thời nhẹ nhàng, linh hoạt. Mà trong dàn nhạc kèn đồng còn gọi là dàn nhạc binh hay dàn nhạc quân đội, thành phần chủ yếu là kèn đồng, rất thích hợp cho các loại hành khúc quân đội, duyệt binh và các nghi lễ trang trọng.
Phải chăng tiếng kèn trompet tuyệt vời của anh chàng thổi kèn trompet tài hoa kia đã góp phần cổ vũ người ta xông ra chiến trường để anh ta ở lại Thủ đô hưởng muôn vàn may mắn?!


1. Hồng Chương15.08.2009 lúc 4:59 chiều
Phải chăng tiếng kèn trompet tuyệt vời của anh chàng thổi kèn trompet tài hoa kia đã góp phần cổ vũ người ta xông ra chiến trường để anh ta ở lại Thủ đô hưởng muôn vàn may mắn?!
————-
Kính phục bác.

2. Ha Linh15.08.2009 lúc 5:34 chiều
Ôi cứ mỗi khi bác Người làng cốm xuất hiện thì chúng cháu lại được đọc những cái còm rất hay với cái nhìn rộng lớn và sâu sắc..
( hi hi nói thì các bác khác đừng bảo em ăn theo nói leo nha): e cũng vừa rửa bát vừa nghĩ đến hình ảnh tiếng kèn Trompet và anh chàng thổi kèn, cứ nghĩ tại sao Bọ lại đặt tên truyện là Tiếng kèn trompet trong khi nếu đọc thì thấy rõ ràng Bọ có thể chọn tên khác…Tiếng kèn trompet và hình ảnh anh chàng thổi nó cứ lảng vảng trong truyện, có khi là đan xen giữa hiện tại và kí ức của Thùy Dương ngay cả lúc cô yêu say mê anh bộ đội, và kết thúc truyện cũng có hình bóng của anh ta…Hẳn là Bọ có ý tứ chi đây???những hy sinh, mất mát thì hiện hữu,còn tiếng kèn và anh ta cứ lảng vảng trong kí ức người khác, họa hoằn lắm chỉ có cái ảnh là hiện hữu về mặt vật chất của anh ta thôi…Lúc đang rửa bát( e phải nói thế vì cái hành vi rửa bát của em xảy ra trước khi e đọc cái còm của bác Người Làng Cốm), e nghĩ có thể tiếng kèn được ám chỉ như là ảo ảnh, như là phù phiếm so với thực tế là chiến tranh khốc liệt nơi cần sự dấn thân, sự quên mình…E cảm thấy tình yêu của anh này nửa vời cho dù 4 năm liền anh theo đuổi cô diễn viên múa, tốn bao nhiêu tiền mua hoa hồng, thế nhưng ngày cô ấy ra trận, anh cũng chẳng thèm đến chào mà chỉ đứng thổi kèn trên sân thượng..NÓi như bác Người Làng Cốm, Người nghệ sỹ thổi kèn trompet làm bừng lên tinh thần của người khác, có thể thêm giục giã bàn chân bao người khác ra trận nhưng bản thân anh dường như đứng ngoài cuộc đó và tìm cách đứng nơi an toàn nhất và đi lên với vinh quang, cho dù cha anh xông pha nơi chiến địa, người anh yêu vĩnh viễn mất đôi chân nơi chiến trường khói lửa.. Cũng có thể trong ngày chiến thắng tưng bừng với nhạc và hoa, tiếng kèn của anh làm cho dàn nhạc hùng tráng hơn, say đắm lòng hơn…nhưng mà hi hi e thấy anh giống như là người đứng sau lưng để đẩy người khác ra hứng mũi tên hòn đạn thay mình. Anh có thể là nghệ sỹ tài hoa, nhưng về con người thì anh là kẻ hèn nhát….và sự hèn nhát, cơ hội cũng có chỗ trong chiến tranh cho dù có lúc nào đó người ta không nhìn thấy nó

3. meogia15.08.2009 lúc 8:31 chiều
Em phuc bac Nguoilangcom qua! That sau sac!

4. NGUYỄN QUANG LẬPTác giả bài viết16.08.2009 lúc 10:56 sáng
To bác NLC: Mọi người đã nhận xét lời bình của bác rồi,. bọ không nói gì thêm nữa. Từ nay cứ mỗi entry của bọ ra lò, mọi người lại dài cổ chờ còm bác đấy


  KÍNH   BÁO Chủ nhân trang blog Bị ốm. Vì Vậy trang NgườiLàngCốm.BlogSpot xin tạm đóng cửa. Xin kính báo cùng toàn thể Độc giả xa gần !!!  ...