Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018


Thư đi thư lại: VÀI CHUYỆN VẶT VÃNH VỚI CHU VƯƠNG MIỆN - Tác giả: Nguyễn Bàng (Sài Gòn)

Đặng Xuân XuyếnLeave a Comment

Thư đi thư lại:
VÀI CHUYỆN VẶT VÃNH
(NGUYỄN BÀNG và CHU VƯƠNG MIỆN)
*
Được tác gia, nhà giáo Nguyễn Bàng, hiện cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ những trao đổi qua email của Ông với nhà thơ Chu Vương Miện, đang định cư tại Hoa Kỳ, vài chuyện “vặt vãnh” về ngôn ngữ tiếng Việt, ví như: con chó, con  lợn, con heo... hiểu thế nào cho đúng? Trộm nghĩ những “quan tâm nho nhỏ” của 2 Ông chắc sẽ hữu ích với nhiều bạn đọc, vì thế, trang Đặng Xuân Xuyến đã biên tập và trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc.

Kết quả hình ảnh cho tranh chó lơn


Nhà thơ CHU VƯƠNG MIỆN:
(Hoa kỳ: 18.06.2017)   
Kính anh!
Nếu có thì giờ làm ơn phân biệt giúp em: CON CHÓ và CON MÁ.
Thế nào là CHÓ và thế nào là MÁ và ĐỒ CHÓ MÁ?
Kính.

Nhà giáo NGUYỄN BÀNG
(Sài Gòn: 18.06.2017)
(Tác gia, nhà giáo Nguyễn Bàng)
Mấy hôm nay, tôi có chút việc nhà không mấy thì giờ lên mạng. Nay đọc thư bác, thấy bác hay hỏi tôi nhiều câu hiểm hóc quá. 
Tôi nhớ hồi đầu học Trung học thời Pháp ở Hà Nội có tuần báo HIẾU HỌC do ông Bùi Cẩm Chương làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo giúp học trò hiểu thêm nhiều kiến thức học đường và rất nhiều điều hay về mọi mặt trong đời sống qua hỏi đáp với các nhân vật có những cái tên rất giản dị, vui và dễ nhớ dễ mến yêu như: ÔNG TRƯỞNG HÓM, một người nhiều tuổi nhưng rất vui tính và yêu trẻ/ CHỊ HIỀN, một người chị xinh đẹp và hiền hậu/ ANH CÀ SẾU cao gầy lẳng khẳng nhưng hay giúp đỡ mọi người. Đặc biệt CHÚ BÁCH KHOA, trẻ trung với đôi kính dày cộp biết tuốt, ai hỏi gì cũng sẵn lòng giải đáp.
Tôi đã học được ở ông Trưởng Hóm một chút lòng yêu trẻ, ở Chị Hiền một chút tính hiền hậu, ở Anh Cà Sếu một chút tinh thần giúp đỡ người khác nhưng cái đầu tôi thì không sao có được nhiều kiến thức như Chú Bách Khoa! Ôi, ước gì tôi có được cái đầu như chú Bách Khoa thời ấy!
Nay bác hỏi: Thế  nào là CHÓ và thế nào là MÁ và ĐỒ CHÓ MÁ?
Thôi thì nghe được đến đâu thì trao đổi cùng bác đến đó cho vui tuổi già trong buổi hoàng hôn.
CHÓ thì khỏi nói nhiều.
Còn MÁ, thì có nhiều kiểu giải thích khác nhau:
a/ Theo một số người đi đây đi đó tỏ ra biết nhiều thì: 
 má = chó - một vài vùng vẫn gọi con chó là má/ như tu má (con chó) trong tiếng Thái, người Tày Nùng cũng gọi con chó bằng tiếng na ná như má! (?) 
b/ Theo các nhà ngôn ngữ học thì:
chó má là một từ kép, từ đôi được cấu tạo gồm một từ gốc, hay còn gọi là từ căn - từ Hán Việt, "căn" nghĩa là gốc, kết hợp với một từ mà có nhà nghiên cứu Việt ngữ gọi là "từ đệm" với nghĩa đệm vào, thêm vào, thành từ đôi cân xứng, nói nghe đỡ "cụt", đỡ "cộc". Ví như tre pheo, làng mạc, nước nôi, gà qué, chó má, thuế má, ngựa nghẽo, đất đai, tối tăm, sáng sủa, v.v. 
Và giảng giải thêm:
Từ đôi có khi là từ ghép bằng hai tiếng cùng Nòi khác sắc. Hai tiếng cùng Nòi có thể đều là của Việt, có thể một của Việt, một mượn của tộc khác miễn là nó cùng Nòi (tức đồng nghĩa) để khái niệm thành ý Nhiều (hơn). Ví dụ cùng Nòi “gà” thì Gà (từ Việt) ghép với Qué ( từ Hoa, Qué=Kê) thành từ đôi Gà Qué có nghĩa là nhiều loại gà; cùng Nòi “tre” thì Tre ( từ Việt) ghép với Pheo (từ Mường) thành từ đôi Tre Pheo có nghĩa là nhiều loại tre; cùng Nòi chó thì Chó (từ Việt) ghép với Má (từ Tày) thành từ đôi Chó Má có nghĩa là nhiều loại chó.
Cách giải thích này cũng thừa nhận người Tày gọi chó là má.
c/ Theo các tay hay lý sự, lắm lẽ nhiều lời thì:
Để phân biệt con má và con chó chỉ 1 cách duy nhất: Khi ăn thịt chó thấy vài con vật bốn chân, sủa gâu gâu lẩn quẩn bên cạnh; ta vứt cục xương xuống đất; nếu con vật nào bỏ chạy thì đó là con chó. Con vật nào nhảy xổ tới ăn thì đích thị là con má. 
Từ đó suy ra, con chó có thể ăn bẩn nhưng dứt khoát không bao giờ ăn thịt đồng loại. Còn con má thì đến thịt đồng loại cũng không từ. 
Cũng từ đó suy thêm, trong dân gian thường nói  “người - ngợm”. Vậy ngợm là con gì?
Ngợm cũng đi bằng hai chân, mặc quần áo, mang hia, đội mũ, có trí tuệ, có tiếng nói, ăn thượng vàng hạ cám từ cao lương mỹ vị đến bắp luộc, khoai nướng nhưng khác con người ở chỗ con người có thể ăn đủ thứ nhưng ko bao giờ ăn thịt đồng loại, ngợm thì đến thịt đồng loại cũng sẵn sàng ăn sống nuốt tươi. 
Trong thế giới loài chó, chó nhiều nhưng má thì rất hiếm; ngược lại trong xã hội loài người hình như ngợm hơi bị... không ít.
Cách giảng giải của các tay lý sự này mang màu sắc ngôn từ Ba Giai Tú Xuất bông đùa, trêu cợt và đặc biệt là hàm ý đả kích vào những thói hư, tật xấu của một số con người  nặng về phần con hơn phần người.
d/ Theo những người dốt đặc còn hơi hay chữ lỏng trong đó có tôi thì:
Nói cho nhanh là: Trời sinh ra cái tiếng Việt là thế. Chó má luôn đi chung với nhau khi người ta cần dùng hai tiếng đó, không thể cắt nghĩa từng tiếng được. 
Trong dân gian, người ta dùng hai tiếng “Chó má” làm một tiếng chửi: Đồ chó má chỉ kẻ bần tiện, thô bỉ cũng giống như khi chửi Đồ lang sói nhằm cho kẻ gian manh tàn ác.
Người Pháp chửi nặng nhất là: Đồ con lợn nhưng người Nga lại là Đồ chó đẻ, Việt Nam mình thì là Đồ chó má nhưng Đồ chó má vẫn chưa tồi tệ xấu xa bằng cái Đồ mặt l..
(Mặc dù cái l..luôn luôn được “Chúa dấu vua yêu một cái này”)

Nhà thơ CHU VƯƠNG MIỆN:
(Hoa kỳ: 18.06.2017)   
(Nhà thơ Chu Vương Miện)
Thưa Bác, bài Bác hồi âm cho Chu Vương Miện đúng gần hết, tuy nhiên Chu Vương Miện cũng bắt chước bác mà nói Vớt cho vui, theo sự hiểu biết sơ sài cùa Chu Vương Miện thì như sau:
Đế quốc Chăm Pa, là người Chăm, người lai giữa Ê Đê (Rhade) và người Chăm là người Ragiai "RaRhai hay Gialai" những người này goi Ma Chó hay Ma Gà, có nghĩa là Con Chó hay Con Gà, từ Ma chỉ thứ vị thứ ba , (không có đực cái).
Chẳng hạn từ "A Mỉ Ma Thuột" có nghĩa là Làng của Mẹ con Thuột, mà không có nghĩa là Con mà cũng không có nghĩa là Thằng, sau đó thì chuyển thành Buôn Ma Thuột "tức là làng của thằng  Thuột" người Việt chuyển thành Ban Mê Thuật (không có nghĩa gì cả?) 
 Các dân tộc ít người ở các tỉnh sát biên giới Việt Trung  như "Hà Giang Lào Cai Bắc Cạn, Cao Bằng  Lạng Sơn Quảng Ninh”, như người Giao người Tày, Nùng, người Mèo, Mán, người Thái Đen và Trắng thường gọi là con Má (con Chó). Những miền đất này thường là nuôi con Má (chứ không nuôi con Chó) ví dụ như quê nội của CVM  ở Quảng Ninh chỉ nuôi con Má (và quê ngoại của Chu Vương Miện) ở Kiến An Hải Phòng chỉ nuôi được con Chó.
Con Chó và Con Má bề ngoài thì y như nhau, nhưng nhìn kỹ thì phân biệt được con nào là con Chó và con nào là con Má, con Chó thì lưỡi nó loang như da con trăn, con Má thì lưỡi nó trắng y như lưỡi người ta, con Chó thì nuôi ở miền Trung Du Đồng Bằng, không có tinh miễn dịch, nếu bị rắn độc cắn là chêt ngay (nếu chữa trị không kịp), trái lại con Má nuôi trên vùng mạn ngược tức Thượng Du, có tính miễn dịch như con bò là bất cứ loại rắn độc nào cắn cũng không chết (không sao cả), mà sức chịu đựng nóng lạnh cao hơn con Chó. Tuy nhiên con Chó khôn hơn con Má, là con Chó không bao giờ ăn xương đồng loại, còn con Má thì xơi tưốt.
Tờ Giấy là tờ Giấy Trắng, nhưng Giấy Tờ là Tờ Giấy đã dùng để viết "Văn Tự hay Văn Khế" gọi là Giấy Má, khai thuế chỉ 1 lần là xong thì gọi là Thuế nhưng khai đi khai lại vài lần là Thuế Má.
Má là chỉ những cái gì rau mơ rễ má, lòng thòng làm đi làm lại mãi mới xong?  Ở đời cái gì xuông xẻ thì không ai nói tới, hoặc có nói tới thì cũng ngon như “miếng dồi chó”, hoặc Ngon như xáo Chó, lỡ mà không ra sao cả, thất bại thì thõng tay mà thốt lên rằng: - Đúng là đồ Chó Má

Nhà giáo NGUYỄN BÀNG
(Sài Gòn: 18.06.2017)
Cảm ơn bác đã trả lời đầy lý thú.
Người Chăm hay người Thái, người Tày có thể họ gọi con chó là con má. Nhưng con chó khác con má như bác giải thích: “Con Chó và Con Má bề ngoài thì y như nhau, nhưng nhìn kỹ thì phân biệt được con nào là con Chó và con nào là con Má, con Chó thì lưỡi nó loang như da con trăn, con Má thì lưỡi nó trắng y như lưỡi người ta,…”  thì tôi thấy chưa được thuyết phục lắm. Bởi nếu đúng thế thì các sách từ điển tiếng Việt, tiếng Thái …và các sách về động vật học sẽ không bỏ qua con vật là con má và chắc chắn đã có rất nhiều bài viết và tranh ảnh về con vật này. Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Đào Văn Tiến (1920 - 1995) là nhà sinh học Việt Nam, đặc biệt có nhiều công trình trong lĩnh vực động vật học. Nhưng đọc một số sách của ông, tôi cũng không nhìn thấy con má nào cả. Bây giờ “Cái gì không biết thì tra Gu gồ” nhưng tôi tra ông Gu gồ đến mỏi tay cũng đâu có thấy hình con má.
Năm 1895, từ điển của Huỳnh Tịnh Của lại giải thích khác hẳn như thế này: "chó má" ý là "Bộ ngộ nghĩnh, dễ thương. Nói về con nít". 
Tôi dốt đặc, vì vậy tôi nghiêng về lý lẽ của anh dốt đặc còn hơi hay chữ lỏng: Chó má là chó má thế thôi! Nó không phải chỉ là con chó mà cũng không phải chỉ là con má mà là một tiếng chửi những kẻ bần tiện, thô bỉ. Nay bác thêm ý: “ở đời cái gì xuông xẻ thì không ai nói tới, hoặc có nói tới thì cũng “ngon như miếng dồi chó” hoặc Ngon như xáo Chó, lỡ mà không ra sao cả, thất bại thì thõng tay mà thốt lên rằng: - Đúng là đồ Chó Má”
Tôi thấy cũng chưa chuẩn. Trong trường hợp này người ta chỉ thốt lên hai tiêng: Chó thật! hoặc Chó thế, như Tú Xương đã thốt: “Tế" đổi làm "Cao" mà chó thế!”
Còn đồ chó má thì là chửi người khác chứ không lẽ tự chửi mình!
Tiện đây tôi cũng nhắc lại, câu chửi đồ chó má chưa phải là một câu chửi tệ hại và thô tục của người mình, câu chửi tệ hại và thô tục thông thường nhất vẫn là câu: Đồ mặt l..! Mặc dù cái ấy không hề xấu xa thô bẩn mà nó còn được “Chúa dấu vua yêu một cái này”

Nhà thơ CHU VƯƠNG MIỆN:
(Hoa kỳ: 26.06.2017)   
Xin bác diễn giải:
Từ CON LỢN miền BẮC theo chân vua GIA LONG vào NAM rồi tự nhiên được chuyển thành HEO?
Câu này bác chỉ suy luận, không có sách nào nói cả.
Em là người nghiên cứu Văn học, nếu cái gì cũng có sách thì mình còn nghiên cứu cái gì?
Kính

Nhà giáo NGUYỄN BÀNG
(Sài Gòn: 26.06.2017)
Bác là người nghiên cứu không chỉ văn thơ mà còn nhiều lĩnh vực khác, vậy bác thừa biết về hai tiếng HEO VÀ LỢN. Tôi chỉ nghe để biết và thấy như vầy:
Một hôm, tôi hỏi bà hàng xóm người Nam chính tông vừa đi chợ về, bà mua đâu mà có miếng thịt lợn ngon vậy? Thì bà ấy đáp, Dạ, chợ hôm nay nhiều thịt heo ngon lắm, mua quầy nào cũng có ông Hai ạ! Như vậy người Nam cũng hiểu lợn là heo và người Bắc cũng hiểu heo là lợn. Nó khác chuyện này: 
Một lần vào chợ đến phản thịt lợn, tôi bảo cô bán thịt cân cho ba lạng thịt thăn thì xem ra cô ấy không hiểu tôi muốn mua bao nhiêu nên hỏi lại tôi, chú mua mấy trăm gờ ram? Tôi trả lời lại, ba trăm gờ ram thì cô ấy cắt thịt cân ngay.
Về HEO và LỢN, tôi nghe được như vầy:
1/ Theo cách giải thích trong dân gian:
Người Miền Nam phần lớn là những di dân từ Miền Trung, (Thanh Nghệ Tĩnh),  tiếng nói của họ nặng, khi phải bẩm trình với quan lớn, họ lại phát âm thành “quan lợn”. Quan cho là vô phép nên sai lính lấy hèo phạt, ai bẩm “quan lợn” là phạt đòn 10 hèo. Nhiều người bị phạt hèo như vậy, nên khi thấy con lợn họ hình dung ngay ra những cây hèo vút vào mông họ, họ bèn mỉa mai gọi con lợn là “con hèo”. Rồi để khỏi lầm lẫn con lợn với cây gậy quái ác ấy, họ bớt đi dấu huyền, còn lại là con heo.
2/ Theo sách vở thì Paulus Huỳnh Tịnh Của  là một học giả người Miền Nam, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, ông đã giải nghĩa lợn là con heo, là giống lục súc béo hơn hết”. 
Cách giải nghĩa của Paulus Của đúng như con lợn tự khoe trong tác phẩm Lục Súc Tranh Công mà tôi đã được học năm lớp Đệ Thất Trung học: “Nội trong hàng lục súc với nhau/ ai sánh đặng mình heo béo tốt?”.
Mà Lục súc tranh công là một tác phẩm nôm khuyết danh có rất phần tiếng miền trong ở vùng Nghệ Tĩnh trở vào. Nhưng về giọng và lối văn thì khá chải chuốt và âm vận du dương, khác với những thể văn chất phác ở thời cổ nhiều, chắc là xuất xứ từ thời Lê mạt hoặc đầu Nguyễn. Xem vậy thì tiếng “heo” có từ lâu rồi chứ không phải mãi khi người miền Nam đông đảo mới có. Theo tôi, lợn hay heo là cách gọi theo cách nói vùng miền mà thôi, giống như người Hà Tĩnh nói con lợn là con lạn, con cá là con cúa.
3/ Các cách giải thích khác:
a) Theo những người có tính hài hước, thích đùa thì: con heo thì ăn bắp, con lợn thì ăn ngô.
b) Theo dân thích xem phim sex thì: Con Heo đóng phim người lớn trong các phim gọi là phim con heo, con Lợn đóng phim thiếu nhi như phim Hiệp sĩ Lợn. Nhưng người Bắc cũng gọi là phim con Heo chứ không là phim con Lợn và các dịch giả dẫu chính gốc dân Nam khi dịch phim hay truyện cho thiếu nhi vẫn luôn dịch là Lợn như trong truyện Hoàng tử Lợn hay phim Hiệp sĩ Lợn mà không dịch là Hoàng tử Heo hay Hiệp sĩ Heo!
b) Theo một nhà nghiên cứu được mệnh danh là Học giả đường phố là ông An Chi giải thích khá chi tiết thì:
 Thực ra, người Đàng Trong cũng từng gọi “heo” là “lợn”. Từ Đàng Ngoài, họ đã đem theo “lợn” vào Đàng Trong. Bằng chứng là Dictionarium Anamitico Latinum (1772-73) của Pierre Pigneaux de Béhaine, lấy tiếng Đàng Trong làm nền tảng, cũng đã ghi nhận cho ta mục “lợn” với 3 mục phụ: “giỏ da lợn”; “bánh da lợn” và “thịt lợn”. Đặc biệt, trong Đại Nam quốc âm tự vị, Huình-Tịnh Paulus Của còn ghi nhận danh ngữ “màu da lợn” với lời giảng “màu da heo, có nhiều sắc trắng đỏ xen lộn, cũng như lớp nạc, lớp mỡ”. Danh ngữ kép này cũng được tỉnh lược thành danh ngữ đơn “da lợn” để chỉ màu sắc và dáng vẻ, như trong “bánh da lợn” mà H.-T. Paulus Của giảng là “bánh làm giống cái da heo, phân ra trắng đỏ nhiều lớp”.
Đây là chuyện trong Nam nhưng ngoài Bắc thì vẫn có xài “heo” mà cái chứng cứ rõ rệt nhất là thành ngữ “nói toạc móng heo”, vốn không phải là sản phẩm của Đàng Trong. Vậy thì cả “lợn” lẫn “heo” đều xuất phát từ Đàng Ngoài và ta có thể ngược lên nguồn mà suy luận rằng, trước kia đã có một sự phân công - mà ta chưa biết được lý do - khiến cho “lợn” thì đi với “da” thành “da lợn” mà “heo” lại đi với “móng” thành “móng heo”. Và lưu dân đã đem “da lợn” từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong rồi dùng danh ngữ này mà đặt tên cho một thứ bánh được làm ra là “bánh da lợn” - mà Đàng Ngoài không có - sau khi họ tiếp xúc với người Miền Dưới (tức Malaysia và Indonesia) về phương diện ẩm thực. Cái bánh này đã chết tên trước khi dân Đàng Trong thay “lợn” bằng “heo” theo xu hướng “dị hóa ngôn ngữ” với Đàng Ngoài kiểu thay “bát” bằng “chén”, “ô” bằng “dù”, “cốc” bằng “ly”, “khỏe” bằng “mạnh”, “ốm” bằng “đau”, “gầy” bằng “ốm”, “đun” bằng “nấu”, “là” bằng “ủi”, v.v…
Còn chuyện “phim con heo chứ không phải phim con lợn” thì không khó giải thích vì về mặt văn hóa - xã hội thì trước 1975, dân miền Nam có điều kiện công khai xem phim sex mà miền Bắc thì không. Do đó, cái tên “phim con heo” ra đời ở miền Nam là chuyện thường tình và sau khi đất nước thống nhất thì loại phim đó đã chết tên trên các phương tiện truyền thông từ trước.
Cách lý giải của ông An Chi về phim con heo + phim sex như trên, theo tôi cũng chưa thoả đáng. Người phương Tây gọi phim sex, phim cấp III, phim xxx…còn người Nhật thường gọi những phim ấy là phim Người lớn. Nhưng khi các phim ấy vào Việt Nam thì được gọi là phim con heo vì, dân ta và cả dân Trung Quốc xưa thường dùng khái niệm “con heo” để chỉ sự quan hệ tình dục (làm tình) vì lý do đơn giản là con heo thân hình trần trụi, không có lớp lông như quần áo che bọc bên ngoài, như con người khi quan hệ tình dục vậy.
Trong một quyển chính sử của Việt Nam là Đại Việt sử ký toàn thư có chép như sau: “Năm Quý Dậu (1513) tháng Giêng, ngày 26, nhà Minh bên Trung Quốc sai sứ sang nước ta sắc phong cho vua Lê Tương Dực làm An Nam Quốc vương. Phó sứ Hy Tăng trông thấy vua Tương Dực có tánh mê sắc dục, dâm ô nên nói với chánh sứ Nhược Thủy rằng: “Quốc vương An Nam tính háo dâm nên là vua heo (Trư vương)” (SĐD, Hoàng Văn Lâu và Ngô Thế Long dịch, tập III, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, trang 65). Như vậy, khái niệm “con heo” để chỉ hành vi dâm ô, đồi trụy, nặng chất tình dục (sex) đã có ở nước ta từ thời đó hay trước nữa rồi, chứ không phải chờ đến khi người Tây đưa phim sex qua nước ta mới có.
Chào tạm biệt bác!

Những chú chó gây tranh cãi bất tận trong nghệ thuật đương đại - Ảnh 3.


Mời thư giãn với tiểu phẩm ÔNG ĐỒ
thơ Vũ Đình Liên, qua diễn ngâm của nghệ sĩ Quốc Anh:
         
*
NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
Email: bnguyen37@gmail.com
.
.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018


HỒN QUÊ VÀ MẸ TA XƯA

(Vài cảm nhận khi đọc HỒN QUÊ của Đặng Xuân Xuyến)



*
Hồn Quê

Ta về gặp lại hồn quê
Mẹ ta xưa quẩy nắng về hong mưa
Một đời sướng thiếu khổ thừa
Mẹ đan hạnh phúc vặn vừa nỗi đau

Heo may trở dạ mùa sau
Mẹ se gió lạnh khỏi nhàu nắng tươi
Chắt chiu ủ ấm nụ cười
Mẹ nhen lửa giữ cho “Người ở xa”

Tháng Mười, tháng Bảy, tháng Ba
Mẹ gom gió lạnh mưa sa bão dồn
Đổ vào sẫm đỏ hoàng hôn
Mẹ ru ta nặng trĩu hồn quê Cha

Ta về gặp lại hồn ta
Mẹ ta thì đã đi xa cuối trời...
*
Hà Nội, sáng 06 tháng 03.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
(Tác giả Nguyễn Bàng)

LỜI BÌNH:

Mới qua tết Nguyên Tiêu chưa được 5 ngày, nỗi nhớ thương quê hương trong tôi, một kẻ xa quê gần trọn kiếp người, vẫn man mác một màu buồn suốt từ đêm Trừ tịch đến giờ đang còn chưa dứt thì lại đọc được bài thơ Hồn Quê của Đặng Xuân Xuyến khiến màu buồn nhớ đó càng thêm đậm sắc.
Nhìn tên bài thơ trong tôi bỗng bật lên một câu hỏi: Hồn quê là gì?
Người ta thường hay nói về hồn người và gần như mặc định tin rằng mỗi một người đều có một cái hồn, đó là cái tinh anh của con người mà cái chết không bao giờ hủy diệt nổi: “Thác là thể phách còn là tinh anh”. 
Thì quê hương cũng thế. Mỗi một làng quê đều có một hồn quê, đó là cái tinh anh của làng quê ấy, của xứ sở ấy, của riêng vùng đất ấy mà người dân làng ấy dù ai đi đâu ở đâu có đến cả trăm nơi ở khác, dẫu có đẹp hơn quê mình vẫn thấy nhớ thương da diết về cái hồn quê ấy. Và, cũng như tinh anh của con người, cái hồn quê ấy không gì huỷ diệt được. 
Hồn quê, ấy có thể là một cây hoa gạo bên bến sông, là một con đường làng đất đỏ, một ngôi đình làng, một mái chùa làng, một cánh cổng làng, một lễ hội làng… Nó cũng có thể là những tập tục tốt đẹp của người dân làng quê ấy, là những nét lịch sử hào hùng hay truyền thống văn hoá đặc sắc hoặc sự tích các nhân vật kỳ tài của vùng đất ấy… Hồn quê giản dị gần gũi vậy thôi nhưng nó luôn sống trong lòng người dân làng từ đời này sang đời khác.
Nhưng đọc Hồn Quê của Đặng Xuân Xuyến, ta lại không thấy một câu chữ nào nói về những nét tinh anh của quê nhà như thế mặc dù quê hương của nhà thơ là làng Đá, một làng quê chỉ cách Hà Nội non sáu chục cây số nhưng đến nay vẫn giữ được trong mình những nét cổ kính của một làng quê Việt Nam với những cây đa, giếng nước, sân đình, cổng làng và những ngôi nhà cổ…Và, còn hơn thế, ở làng quê của nhà thơ còn có ngôi chùa Đá nổi danh từ thời nhà Lý với sự tích truyền tụng về cô thôn nữ đẹp người đẹp nết của làng được hoàng cung tuyển chọn làm thiếp yêu cho vua. Vào ngày cô dời làng lên xa giá về cung, bỗng xuất hiện đám mây ngũ sắc, hình dáng tựa con rồng xanh, như đang ngồi che chở cho cô, theo cô về triều. Dân làng cho đó là điềm lành nên hoan hỷ lắm, liền lấy điềm đó đổi tên làng thành làng Đỗ Xá…
Mà đọc Hồn Quê của Đặng Xuân Xuyến, ta chỉ thấy hiện lên hình ảnh một bà mẹ quê, nói đúng ra là hình ảnh người mẹ của nhà thơ. Bài thơ có 14 câu lục bát thì 12 câu đã được dành trọn nói về bà mẹ ấy.
Hai câu thơ mở đầu :
Ta về gặp lại hồn quê
Mẹ ta xưa quẩy nắng về hong mưa
Một lời kể thật cảm động. Mẹ ta xưa là người đã không quản ngại khó khăn, góp công góp sức sức làm cho cuộc sống, cho quê hương có được phần tươi đẹp. Hai hình ảnh quẩy nắng, hong mưa giản dị và dễ hiểu mà rất sinh động, có thể nói hay không kém gì hình ảnh “múc ánh trăng vàng” trong câu ca dao đã làm say lòng người không biết bao nhiêu thế hệ 
  Sau hai câu phác họa nhanh về mẹ ta xưa đầy xúc cảm ấy, nhà thơ thả hồn mình vào nỗi nhớ về một đời mà mẹ đã sống:
Một đời sướng thiếu khổ thừa 
Mẹ đan hạnh phúc vặn vừa nỗi đau
Mẹ ta xưa, cũng như trăm nghìn bà mẹ quê nghèo khổ ở nông thôn Việt Nam trước đây, “một đời sướng thiếu khổ thừa” nên không dám ước mơ nhiều điều vui sướng mà chỉ mong phải khổ thế nào thì sẽ cố gắng kiếm tìm cho được vừa đủ những sợi tơ hạnh phúc để đan vá, để che đậy cho vừa vặn kín nỗi đau khổ đó. 
  Một trong những ước vọng hạnh phúc rất đơn sơ của mẹ là gia đình luôn được xum họp quây quần, vui vẻ êm đềm bên nhau dưới mái nhà tranh ở quê nhà. Nhưng cuộc đời đâu có cho mẹ được như thế. Vì cuộc sống, một số người thân yêu ruột thịt của mẹ đã phải xa quê khiến mẹ lại thêm vất vả, lại phải chắt chiu nhiều thứ để sẻ chia cho những “Người ở xa” ấy: 
Heo may trở dạ mùa sau
Mẹ se gió lạnh khỏi nhàu nắng tươi
Chắt chiu ủ ấm nụ cười
Mẹ nhen lửa giữ cho “Người ở xa”
3 hình ảnh đầy ắp trong 4 câu thơ: bàn tay mẹ se gió lạnh để nắng tươi khỏi bị nhàu úa/ Mẹ chăm chút, nâng niu từng li từng tí những gì coi là quý như một nụ cười cũng cần phải ủ ấm/ Mẹ nhen nhóm ngọn lửa để không bị tắt, nguội lạnh. Tất cả, mẹ đều để dành cho người ở xa.
Có thể nói, ba hình ảnh ấy là ba nét khắc rất tinh xảo và rất đẹp đã tạo nên một bức tranh tinh tế và chân thật về mẹ ta xưa làm bật lên hồn cốt tấm lòng giàu tình thương và đức hy sinh cao cả của mẹ.
Khổ thơ thứ ba là những màu sắc tô điểm thêm cho hoàn chỉnh bức tranh ấy về mẹ:  
Tháng Mười, tháng Bảy, tháng Ba
Mẹ gom gió lạnh mưa sa bão dồn
Đổ vào sẫm đỏ hoàng hôn
Mẹ ru ta nặng trĩu hồn quê Cha
Bất kể thời gian nào, đầu năm, giữa năm hay cuối năm, tháng này sang tháng khác, mẹ đã không quản gió lạnh mưa sa, bão dồn nhặt nhạnh góp gom những gì có ích để nuôi nấng các con về cả thể chất lẫn tâm hồn. Những hình ảnh tráng lệ như gió lạnh mưa sa bão dôn cùng màu sắc sẫm đỏ hoàng hôn đặt liên tiếp dồn dập bên nhau kết hợp với các từ mạnh như gom, đổ vào đã diễn đạt đầy cảm xúc hình ảnh người phụ nữ một đời chịu thương chịu khó, một đời lo toan vất vả vì gia đình và con cái. Nhưng cho dù gian khổ đến mấy, lòng mẹ bao la vẫn luôn dịu hiền trong lời ru con “nặng trĩu hồn quê Cha”.
Toàn cảnh bức tranh về mẹ ta xưa trong Hồn Quê của Đặng Xuân Xuyến dễ gợi người đọc nhớ tới hình ảnh sâu đậm trong tâm trí của người dân việt Nam nhất là ở nông thôn: “Con cò lặn lội bờ sông”. Một phận người tần tảo, vất vả sớm khuya.
Hai câu kết: 
Ta về gặp lại hồn ta
Mẹ ta thì đã đi xa cuối trời...
Vậy là bà mẹ của nhà thơ mất đã lâu rồi. Nhưng người đọc hiểu rằng: Thể phách của mẹ có thể đã tan biến hết còn cái tinh anh, cái hồn của mẹ được kể bằng tất cả những hình ảnh, những tích chuyện ở trên thì không hề bị hủy diệt mà vẫn luôn luôn sống trong lòng đứa con và vẫn đang sống cùng cái tinh anh, cái hồn của quê. Vì thế, mỗi lần về quê, gặp lại hồn quê thì con thấy ngay mẹ xưa hiện lên trong đó. Vâng: Trong Hồn Quê ta có cả Hồn Mẹ ta đó.
Có thể nói, đấy không chỉ là một hàm ý sâu sắc mà còn là một phát hiện tâm linh mới mẻ trong bài thơ của Đặng Xuân Xuyến.
Ai mà chẳng có quê, có nơi chốn mình sinh ra. Ai mà chẳng có mẹ, người mang nặng đẻ đau ra mình. Bởi vậy, cái hồn quê trong đó có cả hồn mẹ mình không có gì là thánh thần kỳ bí mà chỉ là những nét đẹp bình dị gần gũi nhưng vô cùng thiêng liêng cao cả mà bất kỳ người dân nào của quê hương, người con nào của mẹ đều hằng gìn giữ trong lòng. Mất linh hồn là mất hết.
Hồn quê là thế. Giản dị thế thôi. Nhưng thật tiếc, không thấy mấy văn chương viết về Hồn quê. Có lẽ, hai tiếng Hồn quê trong câu Kiều nức danh của cụ Nguyễn Du muôn đời vẫn sẽ là hai tiếng được nhiều người nhắc tới:
Đoái trông muốn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa
Bài thơ Hồn Quê của Đặng Xuân Xuyến chưa hẳn đã là hay với nhiều bạn đọc nhưng rất đáng đọc và đáng khích lệ. Bởi vì trong Hồn Quê của Đặng Xuân Xuyến sáng lung linh hồn mẹ ta xưa của nhà thơ.

Sài Gòn 07 tháng 03.2018
NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
Email: bnguyen37@gmail.com

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Thư đi thư lại:
Chuyện RÉT NÀNG BÂN
(NGUYỄN BÀNG, NGUYỄN KHÔI, DƯƠNG NINH NINH)
*
Trang Đặng Xuân Xuyến trân trọng chia sẻ với Quý Bạn Đọc những trao đổi qua email của tác gia, nhà giáo Nguyễn Bàng với nhà thơ Nguyễn Khôi và cây bút trẻ Dương Ninh Ninh, xoay quanh chuyện Rét Nàng Bân.




      
Cây viết trẻ DƯƠNG NINH NINH (sinh năm 1995)
(Sài Gòn: 18.04.2016)

Kính gửi hai bác Nguyễn Khôi và Nguyễn Bàng,
Phải dành những thì giờ được tự do nhất của riêng mình trong 2 tuần lễ, cháu mới đọc được một số bài thơ của bác Nguyễn Khôi trên các trang mạng. Bác Nguyễn Khôi thật khiêm tốn khi chỉ coi việc làm thơ chỉ là Nghiệp dư - tay trái góp vui với đời,  nhưng qua bề dày cả số lượng và chất lượng thơ bác, cháu thấy bác thực thụ là một nhà thơ trưởng lão trong làng thơ Việt Nam hiện nay. Sẽ có dịp cháu thưa cùng hai bác cảm nghĩ của cháu về một số bài thơ của bác Nguyễn Khôi.
Tình cờ trưa nay cháu vừa đọc xong bài Rét Nàng Bân của bác Nguyễn Khôi viết từ năm 2011, đang thích thú với mấy câu cuối:
Chuyện ngày xưa ân ái thật mặn nồng
Khi đã Yêu, bắt đất trời đảo ngược
- Như lý tưởng, như cả lời nguyện ước
Tình Yêu nào hơn cả Rét Nàng Bân?

thì Gmail báo có thư, thư của con bạn gái thân nhất của cháu từ Hà Nội gửi cho. Hai đứa cháu chơi và học với nhau từ Lớp Một Tiểu học. Nó hơn cháu 1 tuổi, xinh đẹp nết na, giỏi nữ công gia chánh nhưng vì hoàn cảnh gia đình, xin học Sư phạm Mẫu Giáo và ra dạy ở một trường Mầm Non có tiếng của Thủ đô. Nó cũng là đứa lấy chồng sớm nhất trong hội mấy đứa bạn gái thân thiết của bọn cháu. Chồng nó, dân công sở to, yêu nó từ khi nó còn học Phổ thông, nay vẫn rất yêu vợ lại thêm có cuộc sống đầy đủ về mọi mặt nhưng nó vẫn buồn một nỗi, chồng nó sống hiện đại quá nên bao nhiêu cái đảm đang giỏi giang về nữ công gia chánh của nó giờ trở nên vô tích sự. Gmail hôm nay của nó không phải là thư mà là một bài thơ khiến cháu vô cùng ngạc nhiên, mail hỏi lại: Mày thành nhà thơ từ bao giờ thế. Nó mail đáp: tao ăn cắp trên mạng, có edite tý chút cho đúng cảnh ngộ của tao thôi. Bài thơ như sau:

LẠI ĐẾN RÉT NÀNG BÂN

Mẹ dạy em đường kim mũi chỉ
Khi em chưa biết lớp vỡ lòng
Mẹ khen con tay xinh khéo thế
Mai mốt rồi khối kẻ ước mong

Anh của em giờ chỉ yêu hàng hiệu
Áo chưa phai đã đổi mốt liền
Bàn tay em trăm xinh ngàn khéo
Thêm tủi buồn số kiếp vô duyên

Nhiều đêm gió lạnh lùa khe cửa
Em bỗng mơ được gặp nàng Bân
Ôi nàng Bân, dẫu đôi tay vụng dại
Cũng một lần may áo phu quân !

Năm nay lại đến rét nàng Bân
Tháng Ba se lạnh gió tàn xuân
Nàng Bân chắc đã may xong áo
Hớn hở đang trao tặng phu quân

Năm nay lại đến rét nàng Bân
Tháng Ba se lạnh gió tàn xuân
Anh yêu hàng hiệu, em may áo
Để thầm lau nước mắt thay khăn!

Cháu định gửi cho nó bài thơ RÉT NÀNG BÂN của bác Nguyễn Khôi nhưng thấy 4 câu cuối bài thơ của bác hạnh phúc quá, sợ nó thêm buồn tủi nên thôi.
Giờ xin thưa để hai bác được biết.
Cháu: Dương Ninh Ninh.

Nhà thơ NGUYỄN KHÔI

(Hà Nội: 18.04.2016)
 
VỀ QUÊ VỢ ĐÓN RÉT NÀNG BÂN
       (Tặng: Dương Ninh Ninh)
                    ---------
Tháng 3 nóng, bỗng trở trời lành lạnh
Rét Nàng Bân...được mặc áo vợ đan
bõ cả tháng đi nằm Bệnh viện
vẫn gượng đau đan áo cho chồng.

Ôi thời buổi sính dùng "hàng hiệu"
Nào Quảng Châu, hàng Pháp, hàng Nga...
- Ừ đẹp đấy, con gái mua, chẳng thiếu
Áo vợ đan, dẫu muộn, vẫn đượm đà.

Về Hạ Lũng ngắm hoa vườn mẹ
"Dưới bóng Hoàng Lan" hóng gió lạnh mơn man (1)
Cái lành lạnh nghe mát lòng thơm thảo
Áo vợ đan vừa dịp Rét Nàng Bân.
                  ----
                   (1) Xem Thạch Lam.
Làng hoa Hạ Lũng (Hải Phòng) 18-04-2016
Ngày 12 tháng 03 Bính Thân

NGUYỄN KHÔI
 

Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

(Sài Gòn: 19.04.2016)
Thân gửi cháu Ninh Ninh,


Cảm ơn cháu đã chia sẻ bức thư điện tử này với bác Nguyễn Khôi và cả với bác. Bác nguyễn Khôi là nhà thơ lại đã có bài thơ Rét Nàng Bân (2011) đầy tính nhân bản chắc sẽ cho cháu nhiều cảm nhận sâu sắc. Riêng bác, bác không tin bài thơ Lại Đến Rét Nàng Bân của bạn cháu là đã chép lại ở đâu đó và được edite tý chút. Đó chỉ là một cách nói vừa khiêm nhường vừa e thẹn của một cô gái xinh đẹp nết na chưa thấy làm thơ bao giờ. Cô bạn của cháu đã xinh đẹp nết na lại giỏi nữ công gia chánh, yêu chồng đằm thắm đến nỗi nước mắt đầy vơi vì không được may áo cho chồng như thế, có thể nói, đó là một thục nữ còn sót lại ở đầu thế kỷ này.
Nhưng hà cớ gì phải buồn đến vậy khi anh chồng vẫn rất yêu vợ kia mà? Còn cái tính ưa hàng hiệu, thích đi ăn nhà hàng hay thêm nữa đi du lịch vào những ngày nghỉ chẳng hạn, cũng tốt thôi cháu ạ vì anh ấy là dân công sở to mà. Cứ để anh ấy tiến theo trào lưu hiện đại cho bằng bè bằng bạn miễn là vẫn rất yêu người vợ của mình. Không biết đôi họ có con chưa? Nếu đã có con thì cháu khuyên bạn hãy chăm lo cho con bằng những tấm áo quần chính cô ấy may cắt. Có thể khi nhìn thấy đứa con xinh xắn trong những bộ áo quần đẹp mẹ nó may cho và nhìn thấy ánh hạnh phúc rạng ngời của vợ mình bên đứa con, anh ta sẽ rất sung sướng được đón nhận  những gì tốt đẹp do chính bàn tay trăm xinh ngàn khéo của vợ mình mang lại cho gia đình. Và, biếtc đâu anh ta cũng muốn được vợ chăm sóc như thế?!
Chúc cháu và người bạn thục nữ của cháu luôn vui khỏe, hạnh phúc.
Bác Nguyễn Bàng.

Cây viết trẻ DƯƠNG NINH NINH (sinh năm 1995)
(Sài Gòn: 19.04.2016)
 Cháu cảm ơn hai bác đã có thư lại cho cháu. Bác Nguyễn Bàng góp ý rất hay vì vợ chồng con bạn cháu đã có 1 bé gái 2 tuổi. Hy vọng điều chỉ bảo của bác sẽ được phát huy tốt. Và, cũng nhờ bài thơ edite chút ít của nó mà cháu được bác Nguyễn Khôi ưu ái tặng ngay cho cả một bài thơ bác mới viết khiến cháu rất xúc động, lại cũng thơ về rét nàng Bân nữa mới thật là hay. Một nàng Bân của thời nay “cả tháng đi nằm Bệnh viện/ vẫn gượng đau đan áo cho chồng” để mang về một niềm hạnh phúc đơn sơ mà cao cả cho chồng và cho chính mình “Cái lành lạnh nghe mát lòng thơm thảo/ Áo vợ đan vừa dịp Rét Nàng Bân” - Một nàng Bân đã có tuổi không chỉ đáng yêu mà còn đáng kính nữa!
Cháu cũng đã đọc “Dưới bóng hoàng lan”, một chốn bình yên lặng lẽ, một vẻ đẹp xưa không dễ mấy ai còn có được. Con bạn cháu, như bác Nguyễn Bàng nhận định, một thục nữ còn sót lại,  giờ thêm bác Nguyễn Khôi nhắc về thiên truyện của Thạch Lam, cháu thấy nó cũng là một vẻ đẹp xưa, cần phải nhắc nhở nó đừng để mất và bằng vẻ đẹp đó cộng với tình yêu chồng con đằm thắm, nó phải lôi kéo được chồng nó về với những hạnh phúc giản đơn nhưng đẹp đích thực của cuộc sống gia đình.
Cháu quyết định chuyển cho nó cả hai bài thơ về Rét Nàng Bân của bác Nguyễn Khôi cùng lời khuyên nhủ của bác Nguyễn Bàng. Xin cảm ơn hai bác.
Kính thư: Cháu Ninh Ninh

NGUYỄN BÀNG

  KÍNH   BÁO Chủ nhân trang blog Bị ốm. Vì Vậy trang NgườiLàngCốm.BlogSpot xin tạm đóng cửa. Xin kính báo cùng toàn thể Độc giả xa gần !!!  ...