Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

 

CHIẾC ĐINH THUYỀN

                                           Truyên ngán cuat Người Làng Cốm

 




    Khi hai người đã ngồi bên bộ ghế mây bóng màu nâu vàng, cụ giáo Nhâm mới khoan thai nhìn người khách trẻ để tìm lại dấu vết tuổi mười ba mười bốn của người hoc trò cũ. Lòng già xôn xao một niềm vui khó ta. Mười lăm năm trước, khi Vũ Hưng chào thầy , theo gia đình vào Nam, thầy Nhâm cũng thôi cầm phấn lên bục giảng, dời thanh phố về nghỉ hưu ở quê nhà. Ai ngờ lại có hôm nay, từ đầu kia cách trở tới 2000 cây số, người học trò cu lăn lội lần tìm về tận cái làng quê hẻo lánh này tham cụ

-   Em ra Bắc có việc gì thế?  Cụ giáo Nhâm đầm ấm hỏi

- Dạ thưa thầy – Vũ Hưng lễ phep trả lời, vẫn chăm chú nhìn cụ giáo, lòng vui mừng vì thấy bóng dáng tuổi già mới in trên mái tóc bạc phơ còn mọi dáng vẻ thầy vẫn như xua: mảnh khảnh, tinh anh và phúc hậu – Con được ra Thủ đô họp mặt các nhà doanh nghiệp trẻ tài năng. Họp xong, mọi người lên Sapa nghỉ mát, con con xuôi xuống biển về lại thành phố tuổi thơ của con với mong muốn chính là đươc gặp lại thầy. Con thật xúc động vì đã ngần ấy năm mà thoạt nhìn, thầy đã nhân ngay ra con, cái thằng Hưng Đinh thuyền’’ đã làm thầy nhọc lòng dạy dỗ.

    Nghe Vũ Hưng tự goi minh bằng biệt danh Hưng Đinh thuyền”, cụ giáo Nhâm mỉm cười , vụt nhớ lại lần đầu tiên cụ nghe thấy cái tên đó.

    Cuối hè năm ấy, cô hiệu trưởng đưa cho thầy Nhâm một bản danh sách học sinh mới trúng tuyển vào lớp 10 của trường kèm theo mt nụ cười rất tươi “chỉ hết năm hoc tới là thầy nghỉ hưu. Lẽ ra phải để thầy thôi làm chủ nhiêm lớp để hưởng chút thanh nhàn. Nhưng theo báo cáo của địa phương hoc sinh khu vực Cầu Sắt rất phưc tạp, vì vây lại xin thầy ra tay cầm quân ở khu vực ấy năm đầu cấp hộ chúng em”. Thầy Nhâm vui vẻ nhân ngay. Cô hiêu trưởng phấn khởi nói thêm “Nhưng em không bắt thầy ăn cả khúc đầu cùng xương cùng xu mà đã cắt cho thầy ba hoc sinh thuộc diện khá, giỏi ở khu vực khác, trong đó có một em được tuyển thẳng đấy ạ !

    Hôm nhân lớp, kiểm đủ tên 62 học sinh, thầy Nhâm cho chúng ngòi tại chô dưới gốc cây bàng ơ sân trường rồi lêm Văn phòng làm như phải hôi họp gì trong đó đẻ xem lũ gà mơi thấy vắng chúa nhà sẽ làm nhưng trò gì, Quả nhiên chúng ồn lên ngay như họp chợ. Bọn con gái túm tụm vào nhau nói cười ồn ã. Lũ con trai nhấp nhổm trêu chọc nhau chí choé. Bông có tiếng kêu ré lên : ”Ối đứa nào ném đấy!” Một đứa con gái ở hàng đầu vừa xoa má trái vừa quay nhìn lại phía sau. Từ hàng cuối, một thằng con trai mặt mũi nom sáng sủa ngang nhiên đứng thẳng người, cười toe toét: “xin lỗii nhé!” rồi chạy thoắt lên chô con bé vừa bị nem, xà xuống bên cạnh, chớt nhả hỏi: :”Có đâu không, để mình xoa đền?”. Miệng nói tay làm, nó vuốt nhanh lên má con bé.

- Đ đểu! – con bé phản ứng ngồi giật lại  rồi chồm lên vả cho thằng kia một cái tát.

    Thầy Nhâm vôi vã ra khỏi phòng, Cả lớp như một đoàn tàu dồn toa rất nhanh, trât tự ngay trở lại. Bỗng trong đám con trai nghe có tiếng thì thào “Chết cha thằng Hưng Đinh thuyền rồi!” khiến thầy Nhâm sưng người lại vì Hưng Đinh thuyền hay Vu Hưng, theo danh sách chinh là Hạt giống đỏ mà nha truong đa ưu tiên cho lớp thầy. Nhưng thầy tảng lờ như không nghe thấy gì rồi cho lớp vào phòng học để xếp chỗ ngồi.

    Hết buổi, thầy gặp riêng lớp trưởng đước tạm cử, nhà ở cùng phố với Vu Hưng, hỏi vì sao Vu Hưng lại có tên là Hưng Đinh thuyền? Nó thưa, tuy ở cùng phố, nhưng nó phải học ở trường theo địa bàn, còn Vu Hưng xin được vào trường chuyên của Thành phố nên không rõ lắm. N Nhưng nghe mấy đưa chơi với Vũ Hưng kể thì Vũ Hưng bị một đứa ngồi cùng bàn thù ghét. Thằng này tên là Chiên còn gọi là Chiiến Búa vì nó thường thủ trong cặp một chiếc bủa nhỏ dùng để đánh nhau. Một lần  Chiiến Búa gây sự với Vũ Hưng rổi rút chiếc búa ra doạ đánh khiến Vu Hưng bỏ chạy. Bị rượt đuổi đến bờ sông thì tình cờ Vũ Hưng trông thấy một chiếc đinh thuyền của những người thợ chữa thuyền bỏ quên trên bãi cát, vội nhặt lên dánh lại làm Chiến Búa bị thương ở cổ tay, rơi văng cả búa. Cái tên hưng đinh thuyền có lẽ từ ấy mà ra.

    Buổi tối, thầy Nhâm đang căm cụi xếp danh sách học sinh thì có tiếng gõ cửa. Khách là một phụ nữ trẻ, gon gàng duyên dáng trong bộ quần áo cán bộ sang trọng, tự giới thiệu là mẹ của Vũ Hưng, cán bộ phòng kế toán Cong ty Vận tải biển Thầy Nhâm niềm nở tiếp vị phụ huynh hoc sinh đầu tiên của lớp và không hề đả động gì đên việc đùa nghịch tinh quái của đứa con nên bà mẹ chuyện trò với thầy rất tự nhiên và luôn tỏ ra hãnh diện về nó: “ Bố cháu là sĩ quan quân đội đóng ngoài đảo xa nhưng cháu ngoan lắm ạ, bốn năm liền học cấp hai, chau dều là hoc sinh giỏi!”.  Ròi đặt lên bàn thầy một chíêc túi nylon màu đỏ căng phồng, nét mặt tươi cưởi: “Gọi là chút quà kính thày nhân buổi cháu được nhận thầy nhận lớp mới!”

    Thầy Nhâm dẫ nhã nhặn chối  từ,

     Ba hôm sau trường kiểm tra chất lượng hai môn Văn Toán lớp 10 đẻ phân loại học sinh. Kết quả, lớp thầy Nhâm kém nhất khối không làm thầy ngạc nhiên nhưng điểm riêng của Vũ Hưng Văn 5, Toán 4! Lẽ nào một học sinh được tuyển thẳng lại thế.? Thầy vội mượn học bạ của Vũ Hưng như bị loa mt bỉ các con số ghi điểm tổng kết cuối năm lớp 9: Tất cả các môn đều từ 8,5 trở lên. Riêng môn Toán 9,1. Đúng là giỏi toàn diên! Gần 40 năm dạy gọc cho thầy thấy có cái gì đó rất nghiêm trọng ở đứa học trò này!...

    Cụ giáo Nhâm bông ân cn hi:

-   Bố mẹ em có mnh khỏe không?

 Giọng Vu Hưng bỗng đưm buồn:

-  Cám ơn thầy, Mẹ con vân khoẻ mnh. Nhưng bố con...bố con đã mất năm ngoái rồi !

-   Sao lại thế? -Cụ giáo Nhâm thảng thốt hỏi - Bố em còn trẻ mà.

- Bố em bi ung thư phổi!

- Thầy chân thành thật chia buồn  với gia đình em!

    Thầy giáo Nhâm khẽ nói và cúi thấp mái đầu bạc phơ để tưởng niêm người đã mất Căn phòng như có một luồng khí lạnh thổi vào khiến cả hai thầy trò cùng ngồi thu mình lại. Giây phút sau cụ mới ngẩng đầu lên;

-         - Thầy chỉ gặp b em có một lần nhưng ấn tượng lần gặp ấy thát sâu sắc.

    Suốt một tuần, cả trường nhộn nhip chuẩn bi lễ khai giảng năm học mới, cuốn hút thầy Nhâm vào các công việc khiến thầy quên bẵng đi những uẩn khúc về Vu Hưng. Mà nó cũng tham gia tốt mọi sinh hoạt tp th lớp v mọi  mặt. Lớp thầy luôn được biểu dương dưới cờ về mọi mặt thi dua nên thầy thấy thanh thỏa trong lòng. Nhưng thật bất ngờ, khi cô hiệu trưởng vừa dt hồi trống đón chào năm học mới thì có tin Vũ Hưng bị công an bắt về tội đánh nhau có vũ khí. Tang vật là một chiếc đinh thuyền nhọn hoát. Đói thủ của nó là Chiến Búa đã chạy thoát. Thầy Nhâm phải đích thân lên Công an phường bảo lãnh cho Vũ Hưng được thả ra. Vụ việc ồn lên trong Hội đồng giáo viên. Nhiều người lo lắng cho cái danh hiệu “Trường tiên tiến cấp Thành, đòi đình chỉ học tập Vũ Hưng và đưa ra Họi đồng k luật.. Cô hiệu trưởng hỏi ý kiến thây Nhâm. Thầy thành thật nhân mình có lôi khi không sát sao với Vũ Hưng và xin thêm một thời gian nữa đẻ giáo dục nó.

    Thầy cho Vũ Hưng đến nhà, nhẹ lời hỏi vì sao nó đánh nhau  Nó mạnh dạn thưa ngay, nó bị Chiến Búa đón đường đánh trước. Nhưng khi thầy hỏi vì sao Chiến Búa thù ghét no thì nó thẫn người ra mới áp úng trả lời vì nó không cho Chiến Búa chép bài kiêm tra cuối năm học

    Chiến Búa chắc là học rất kém nhưng qua kiêm tra chất lượng mi đây thì Vũ Hưng đau phải là học sinh giơi. Để cho rõ ngon nghanh, thầy Nhâm lần tìm đến nhà Chiến Búa Thấy thầy hỏi, nó tức tối nói luôn; Cháu ghét thằng Hưng Đinh thuyền lăm. Mẹ nó quen cô giáo chủ nhiệm lại mời riêng một số thầy cô đến dy thêm nó nên bài kiểm tra nào nó cũng được biết trước, lúc làm bài che  che đấu dấu không cho chau chép một chữ!


    Tuy lời Chiến Búa là lời con tr nhưng cũng làm sáng tỏ đôi điều thầy phan doán. Thầy đến ngay nhà Vũ Hưng gặp mẹ nó và được đón tiếp trang trọng trong căn phòng khách bầy toàn những tiện nghi hiên đai. Khi biết bài kiểm tra của con bị dưới điểm trung bình, bà mẹ không tỏ ra lo lắng mà lại đon dẩ đặt ngay vấn đề sẽ mời thầy chủ nhiệm và một số thầy cô nứa đến dạy thêm cho nó rồi hồ hởi kể về sự đối xử chu đáo của mình với cac thay cô Đến khi hay viêc Vũ Hưng bị Công an bắt, mặt mẹ nó vụt tái đi, nhưng đôi môi vẫn run rẩy đỏ lỗi cho Chien Bua là đứa bạo nghịch và lêu lổng đa gây ra mọi chuyện oan  cho con mình, rồi nhìn thầy bằng đôi mát van lơn, xin thầy lo giúp cho ổn thỏa, gia đình xin đi ơn và hâu tạ. Thầy Nhâm tế nhị trao đổi một số biện pháp giáo dục gia đình rồi ra về

    Tối hôm ấy, thầy quên hết sự mệt nhọc ban ngày, nghĩ cách làm thế nao de phối hợp tốt giữa nhà trường và gia đình  Vũ Hưng trong việc giáo duc nó. Nhưng cốt cách mẹ nó như thế, thật là khó. Còn bố nó, ở ngoài hải đảo, ông ta biết những gì về con minh trong thành phố? Lại dễ gì gặp được ông ta? Là một quân nhân, biết đâu ông ta sẽ có những  ý kiến tốt để dạy dô con mình? Băn khoăn nghi thế, thầy quyết định viết một bức thư gửi ra hải dảo và chỉ hy vọng sẽ được bố nó có thư phúc đáp. Nào ngờ, thư gửi đi chưa đầy tuần lễ  đã thấy ông Vũ Hải, bố Vũ Hưng hiện diện ở nhà thầy. Sau cai bắt tay chào hỏi xã giao, ông Vũ Hải oang oang bôc tuệch nói ngayCảm ơn thầy đã gửi thư cho tôi. Nếu không có thư của thầy, tôi sẽ không bao giờ biết được con tôi đang tutj đẫn xuống con dốc của sự hư hỏng. Mặc dù đang mùa luyện quân, tôi cũng xin phép đơn  vị về gặp ngay thầy. Thưa thầy bao năm nay, tôi đa sống trong hạnh phúc vì nghĩ mình có có đứa con trai chăm ngoan, học giỏi. Cuối năm hoc nào mẹ nó cũng gửi ra cho tôi giấy khen của nó. Tôi kiêu hãnh khoe với đồng đọi, báo cáo lên đơn vị đ lĩnh phần thưởng gửi về cho nó. Nào ngờ, chiều nay, mẹ nó đa khóc vì xấu hổ và ân hận khi nói ra sự thật. Thì ra ở các cơ quan công sở bây giờ, người ta không không dùng sự giàu sang đẻ khoe mẽ nhau nữa mà chuyển sang cách khác: Khoe con! Ai cũng muốn khoe con tôi học trường điểm, lớp chon, con tôi là học sinh giỏi, Kỳ nghỉ hè nào công đoàn các cơ quan cũng long trọng tổ chức lễ phát phần thưởng cho các con cán bộ, công nhân viên chức đơn vị mình đã đạt danh hiệu “học sinh Tiên tiến”. Cấc bà mẹ cũng thơm lây, được nhận giấy khen “Phụ nữ đảm việc nhà, giỏi việc cơ quan”! Vợ tôi cũng bị  lôi cuốn vào cái vòng xoáy hư danh ấy. Đáng lẽ phải khổ công tốn suc day bảo con cái thì cô ấy lại tìm cách đi ngắn nhất là lo lót cho nó, biến nó thành một thứ cay tầm gửi trong học tập và tu dưỡng

    Cảm động trước tấm lòng ngay thẳng chân thật của một vị phu huynh học sinh, thầy Nhâm đã bàn bạc căn kẽ với ông Vũ Hải cách kéo Vũ Hưng lên khỏi con dốc  nó đang bị tụt rồi đưa đưa cho ông  chiếc đinh thuyền bên Công an đã giao li cho thầy, bảo ông đưa về cho Vu Hưng đẻ nó tự xr lý

-         - Ồ! Thế thày không sợ cháu nó lại dùng chiec đinh này đẻ đánh nhau na hay sao?

-         - Tôi tin nó không dám như thế! - Thầy Nhâm vui vẻ khẳng định....

 

     - Thưa thầy! – Vũ Hưng vẫn trong tâm tư tưởng nh người bố đã khuất, cất ngang đòng hồi tưởng của cụ giáo - Bố con vẫn nhắc đến thầy luôn. Trước khi mất, bố con còn dặn con, hễ có dị ra Bắc là phải tìm thăm thầy. Hôm nay chắc vong linh bố con thoả nguyện lắm. Nhưng con còn muốn xin thầy một điều...

- Em cứ nói đi! – C giáo st sắng nói

- Tuần sau là đén ngày giỗ đầu b con. Con muốn mời thầy vào Nam thắp cho bố con một nén hương, cũng là dịp thầy cho con đưa thầy đi thăm đất nước một chuyến!

Cảm động trước tình nghĩa của người hôc trò cũ, cụ giáo trầm ngâm giây lát rì gt đầu:

-         Thầy cảm ơn em!

 

&

 

    Giỗ đầu ông Vũ Hải được gia đinh tổ chức đơn giản nhưng nghiêm túc sâu sắc. Khách mời khoảng hai chục người, toàn là ruột thịt và bạn bè thân thiết của nhà họ Vũ đang ở miền Nam. Cụ giáo Nhâm là vị khách cao niên và được trọng vong nhất

Sau khi tiễn hết khach ra v, Vũ Hưng mời cụ lên nghỉ trên chiếc sập khảm trai kê cạnh bàn thờ rồi mở tủ mở ngắn kéo lôi ra một cái hộp gỗ nhỏ  lại bên cụ, bẽn ln như một đứa trẻ hỏi::

-  Thầy con nhớ chiếc đinh thuyền đã đưa cho bố con không?

- Thầy nhớ!

- D! Nó đây!

    Vũ Hưng từ từ mở chiếc hộp để lộ dưới đáy một chiếc đinh thuyền màu xám đen boc trong một lốp nylon bóng trắng.

- Em vẫn còn giữ nó cơ a?

- Vâng a! Vũ Hưng thưa rồi lấy ra chiếc đinh thuyền đựa lên ngang mặt ngắm nghía- Nó là một vết nhơ trong thời niên thiếu của con nhưng nó cũng là một người ban thân thiết luôn nhắc nhở con phải tu thân Trước hôm ra đảo, bố con đã thức trọn đêm bên con, kể lại cuộc gặp mặt với thầy và khuyên nhủ con mọi nhẽ rồi đưa chiếc đinh thuyền này cho co và bảo thầy gửi lại để con tự xử lý  Thú thật con cũng chư biết làm gì với nó thì hôm sau có giờ sinh hoạt lớp, thây kể cho lớ một câu chuyên ngoại khoá đén nay con vẫn nhớ như in

    “Ngày xưa có một nhà hiền triết, khi thấy mình làm một việc xấu thì tự đóng một chiếc đinh lên cột nhà khi làm một vic tôt thì tự hổ đi  một chiếc đinh.. Sau một thời gian, nhà hiền triết giât mình thấy trên cột nhiều đinh bị đóng quá. Ông lo lắng rồi quyết chí tu thân từng ngày từng việc. Chẳng bao lâu, trên cột đã nhổ hết đinh.  Nhưng vẻ mạt nhà hiền triết vẫn buồn rười rươi. Có người thấy vậy, hỏi vì sao thì hiền triết đâp:

                Đinh dù đa nhổ được ra,

             Vết kia còn đó đe mà sạch ru?

    Rồi tiếp: Nếu mà hiểu sm điều này thì chiếc cột kia đã không có vết đinh! Con có cảm tưởng, thậy kể câu chuyện ấy vừa cho cả lớp nghe vừa riêng cho con, Về nhà, con kể lại với me con rồi nghe lời khuyên của mẹ, con tới nhà Chiến Búa xin lỗi nó, cùng nó giảng hoa. Nó bảo, thế thì hai thằng đem chiếc a và chiếc đinh thuyền vứt xuống sông cho khuất mắt. Con lại kể cho nó nghe câu chuyên đó và bảo hãy giữ chúng lại để chúng nhắc nhở mình đừng bao giờ làm viêc xấu nưa!

    Vũ Hưng nhẹ đăt chiếc đinh thuyền vào hộp rồi đem cất vào tủ. Cụ giáo Nhâm trìu mến nhìn theo người học trò cũ:

- Và cuối năm hoc đó, em đã quyết phấn đấu trở thành một học sinh giỏi thực thụ.

- Vâng! – Vũ Hưng lễ phép ngoảnh mặt lại nghe – Đó là nhờ lòng bao dung và công ơn cua thầy!!

- Khồng! - Cụ giáo Nhâm điềm đạm nói – Công ơn của bố êm đấy!

    Rồi cu rời khỏi chiếc sập đén bên bàn thờ ông Vũ Hải đang tàn tuần hương đót lên một nén hương mới!

 

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

 

Nỗi nhớ xa xăm, tùy bút nhà văn Trần Huy Quang: [Kỳ 5] Còn lại Sao Sa10

Cuộc 'đụng độ' giữa nõn và nường diễn ra ở bãi Sao Sa, một bãi cát lòng chảo rộng chừng vài chục cây số vuông, chỉ toàn mọc một loại cỏ, gọi là cỏ lông.

Minh họa Công Cừ

Làm trai chạy Ói, làm gái Sao Sa. Đúng là năm ấy làng làm hội to, trước Tết, ông tôi bận túi bụi, hễ về nhà là kêu đói, giục dọn cơm, ăn xong là đi liền. Thầy tôi thì vắng nhà liên miên, về nhà cũng rất thất thường. Sau tết Thượng nguyên, bà thím họ tôi đứng giữa nương hoa cải vàng, nói với mẹ tôi, “thày chị mê mải với trò chạy Ói, cháu nội cháu ngoại rồi mà còn ham chơi”. Mẹ tôi chỉ tủm tỉm cười. Các cụ hay lo, mẹ tôi không dám ủng hộ ai, cũng không dám bênh bố chồng, chỉ không giấu được nụ cười thích thú.

Nhưng trưa hôm ấy ông tôi tất bật về nhà ăn cơm, mẹ tôi chỉ bóng gió nói: "Trò chạy Ói năm nay không biết có bị mưa không?”. Ông tôi nói: “Sắp vũ thủy sao không mưa? Mà có mưa bụi mới hay”. Kèm theo chữ hay là nét mặt hí hửng của ông tôi làm cho bà thím họ sang chơi sầm mặt lại: “Không biết là ai mà bày ra cái trò ấy, xem ngượng chín cả người”.

Sau hội hoa đăng của tết Nguyên tiêu độ một tuần là đến hội Chạy Ói, dù có họ chưa giỗ xong cũng mặc. Cả làng ai cũng náo nức, cả làng đều phải bỏ công sức ra để chuẩn bị cho cuộc chạy. Huy động tre, gỗ, vải, phẩm màu. Còn phải liên lạc với làng Cờn để biết bên kia làm to bao nhiêu hay phải thảo luận với nhau để làm kích cỡ cho tương xứng.

Hội Chạy Ói ở làng tôi không biết có từ khi nào, người bảo đã có hơn năm trăm năm, người bảo hơn. Mà hội Chạy Ói không phải riêng làng Mơ tôi mà làm nổi, phải kết hợp với làng Cờn, hai làng cách nhau đi phải mất nửa buổi. Vì cả hai làng đều liên quan đến một câu chuyện tình bi thảm.

Chuyện ấy có chép trong Thần tích hai đền là đền Ói và đền Cờn. Thời Nam Tống bên Tàu, gặp bước loạn ly đến nỗi triều thần phải đưa hoàng hậu và hai công chúa chạy ra biển rồi bị tan tác vài người may mắn trôi dạt vào vùng rú Ói. Trên rú Ói lúc bấy giờ đã có một cái chùa nho nhỏ, có một nhà sư trụ trì. Người cứu sống ba mẹ con hoàng hậu là nhà sư trụ trì trên ngôi chùa cỏ đó. Bước đường tới ra sao chưa biết nhưng bước gian nguy đã qua, ba người quen dần với cơm cà rau muối đạm bạc, tìm an ủi trong tiếng cầu kinh gõ mõ và tiếng chuông chùa trong u tịch.

Lại nữa, tuy là phong cảnh thủy mạc của chốn dân dã sơn lâm nhưng hữu tình thanh nhã không như nơi lầu hồng gác tía đầy mưu hiểm và binh đao. Khi hoàng hôn vách đá, ánh nguyệt hạ huyền dõi cao sơn, lúc bình minh sóng trải dài bờ cát trắng, đã đưa lại một chút ánh hồng trên má thiếu nữ và thiếu phụ. Ngôi chùa tĩnh lặng với một ân nhân cao tăng thoát tục, ba người cảm thấy được an ủi trong bước sa cơ.

Nhưng ở đời, nhan sắc vốn là điều hiếm hoi, nhất lại là cành vàng lá ngọc và nhất lại là hằng đêm dưới trăng quạnh quẽ mà sóng biển như sóng lòng, cứ ào ạt ào ạt dội vào ghềnh đá. Nhà sư, trong một tình thế ngàn năm có một, sóng lòng cũng không giữ được yên.

Bị hoàng hậu từ chối, nhà sư ân hận và xấu hổ, nhảy xuống biển mà chôn vùi tấm tình si. Sáng hôm sau, hoàng hậu thấy người đã cứu mạng ba mẹ con mình đã vì mình mà chết, cũng lao từ trên vách đá xuống biển tự tử. Xác của họ trôi đến lạch Cờn, dân làng Cờn thấy biết là người tiết liệt liền lập đền thờ bà. Ngôi chùa cỏ ít lâu sau, không hiểu sao, bốc cháy dữ dội, đám tro tàn còn lưu trên đỉnh rú như mối sầu thiên cổ.

Ngày nay đền Cờn còn có tượng của ba bà hoàng và nữ tì ấy, gọi là Tứ vị Thánh Nương.

Đền Ói sau được xây dưới vòm đá, vị trí này liên quan đến một sự tích khác có thể mang thêm một hàm nghĩa nữa. Một hôm có một cây gỗ to trôi ngoài biển vào. Dân làng ra khênh thì không sao khênh được. Buộc dây gì cũng đứt. Có người bảo là hồn nhà sư nhập vào đó, để khấn xem có đúng không. Liền biện lễ hương, cung kính khấn rõ to: “Nếu là hồn nhà sư thì cho chúng tôi khênh vào. Dây thừng ngài không ưng thì chúng tôi lấy lụa, vải làm dây”. Quả nhiên, đưa lụa và vải làm dây thì khiêng được. Đi được khoảng trăm thước đến chỗ vòm đá thì dây đứt, buộc lại khênh thì không thể nào đi được nữa.

Nghĩ nhà sư muốn dựng đền thờ ở chỗ này. Thế là dân làng dựng đền ở đó, dưới vòm đá đẹp, ba bên núi bao bọc, đền hướng ra biển. Cây gỗ được đặt thờ ở hậu cung. Trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có chép: “Năm Hưng Long thứ hai mươi (1312) đời Trần Anh Tông, vua thân đi đánh Chiêm Thành, đóng quân ở cửa Cờn, đêm mộng thấy Thần nữ”, cũng chính vua đã ngủ ở vùng này. Chuyện còn chép ở thần phả đền Ói.

Như vậy đền Cờn thờ bà hoàng hậu. Đền Ói thờ nhà sư, không thấy tượng mà chỉ có khúc gỗ dài và to, là biểu tượng của ngài. Có lẽ vì mối tình bi ai ấy mà hai làng làm ra trò chạy Ói hàng năm vào sau tiết Thượng nguyên. Đến ngày ấy, dân làng Cờn rước cái nường làm bằng tre và giấy, dân làng Mơ rước cái nõn, cũng làm bằng tre và giấy hoặc vải, hai bên gồm những trai tráng khỏe mạnh rước chạy, xuất phát cùng thời gian. Theo sau là dân làng.

Và cuộc “đụng độ” giữa cái nõn và cái nường diễn ra ở bãi Sao Sa. Bãi Sao Sao là một bãi cát lòng chảo rộng chừng vài chục cây số vuông, chỉ toàn mọc một loại cỏ, gọi là cỏ lông, lá như cây kim nhưng lại rất mềm, xanh tốt quanh năm. Lạ là không có cây gì mọc ở đó, kể cả cây tàu bay gió đưa quả đi khắp nơi nhưng ở đó cũng không có. Bãi Sao Sa là vì đã từng có một ngôi sao sa xuống, tức có thể đã có một cục thiên thạch, ở một thời nào đó rơi xuống vùng này mới lưu lại tên Sao Sa.

Năm ấy, như báo hiệu một điều gì đó, chạy Ói làng Mơ và làng Cờn đông chưa từng có. Cái nõn làng tôi khi dựng lên mới thấy oai phong lừng lững. Đường kính đến một mét, dài bốn mét. Đằng trước nhòn nhọn, đắng sau là hai khối to, đường kính cũng phải mét rưỡi, làm cho cái nõn oanh liệt, bề thế, vững chắc mà lại luôn luôn như muốn phóng tới.

Đêm hôm trước ngày khai hội, cả làng rậm rịch. Nhà ai cũng đỏ đèn đến nửa đêm. Bởi vì không chồng thì con, dù không có việc cũng tụ tập tại sân đình, nơi đó cạnh cái nõn đầy uy lực, là đống lửa to như đống lửa trại rừng rực suốt đêm. Hàng chục bàn cờ, hàng chục hội tổ tôm, không bài không cờ thì rượu, không về ngủ nữa, thức cho đến sáng.

Và sáng là bắt đầu cuộc diễu hành sự oai phong, uy lực của một cái nõn vĩ đại của làng Kẻ Mơ. Dẫn đầu là đoàn các cụ, các ông, áo the khăn xếp, ngực vồng lên, cơ bắp cuồn cuộn, toàn đàn ông đi biển, ăn sóng nói gió, rượu uống từng vò. Đến đội quân vài chục thanh niên phải to cao với mười đòn khênh, khênh cái nõn được che lọng, uy nghi tiến lên.

Ra đến đường to, từ làng Mơ đến làng Cờn, từ xa xưa đã có con đường cát rộng đến ba bốn chục bước chân dẫn đến bãi Sao Sa, là bắt đầu chạy. Cái đuôi sau có thể rớt dài đến bao nhiêu cũng được nhưng cái nõn thì phải chạy. Ai mệt thì thay người khác. Chạy trong tiếng reo hò cổ vũ, trong tiếng thanh la não bạt, trong tiếng trống lớn trống con, cường tráng, dồn dập, thúc giục, khao khát và oai vệ.

Bên kia cũng vậy, dường như chạm đến bãi Sao Sa cùng đồng thời. Điều này đã được tính toán trước. Hai bên nhìn thấy nhau thì tiếng trống càng hối hả, càng cuống cuồng. Nhưng cách nhau khoảng hai trăm mét thì dừng lại. Cái lễ đài dựng ở giữa, lư hương nghi ngút, cờ phướn tung bay. Trước khi hai vật thiêng giao hợp, hai đoàn của hai làng đến làm lễ. Cuộc hành lễ kéo dài độ một khắc.

Và hình như người ta có ý định kéo dài thời gian hành lễ này càng dài càng hay. Để cho mọi người có thời gian đến hội, để những người không theo kịp đoàn chạy đến cho đủ. Trong khi đó tiếng trống càng giòn dã, dồn dập, náo nức, cuống quýt. Khoảng một khắc sau, tiếng trống chợt lặng ngắt, cả đám hội cũng lặng ngắt.

Cái thời khắc người ta chờ đợi đã đến. Tiếng trống lại chợt nổi lên, một hồi giòn dã. Dứt hồi trống hai vật thiêng bắt đầu chạy. Đến trước lễ đài thì chúng đâm sầm vào nhau, thực ra thì chỉ có cái nõn đâm xuyên toạc cái nường. Tiếng hò reo dậy lên như động đất. Đàn ông thì hả hê, sung sướng, đàn bà thì đỏ mặt, cấu véo nhau, tủm tỉm cười. Tiếng trống giờ đã khoan thai, đĩnh đạc, đều đặn, trầm bổng, dư âm rền mãi xuống đến bãi biển.

Minh họa: Công Cừ.Minh họa Công Cừ 

Lễ hội không còn việc gì nữa nhưng không ai về. Lâu lắm mới được dịp trai gái gặp nhau, tìm kiếm, nhìn ngắm, trông qua đã thấy thích thì cái sự làm quen, làm thân biết bao thời gian cho đủ. Nhưng cái chính là ai cũng phải chờ cho đến chiều để mỗi người kiếm cho mình một cái gì đó của vật thiêng, con trai thì lấy một mảnh giấy, một thanh tre ở cái nường, con gái cũng thế, một cái gì đó ở cái nõn, đưa về đặt dưới chiếu mình nằm. Có như vậy thì tình yêu mới mặn nồng và việc chăn gối vợ chồng mới sung mãn.

Sau ngày chạy Ói, dân làng Kẻ Cờn còn kéo lễ ra ba bốn ngày nữa. Nhà nào cũng cúng, đó là vì người ta muốn giữ ngài lại thêm vài ngày, chứ cả năm gặp nhau một ngày chả bõ bèn gì.

Khi tôi lớn lên thì hội Chạy Ói không còn. Tôi chỉ nghe các dì các cô tôi kể. Hồi học tiểu học, tôi cũng đã tò mò vào tận hậu cung đền Ói xem cây gỗ có giống cây ấy của đàn ông không, thì thấy rất giống. Nhưng người ta vẫn nói đền Ói thờ Mộc thần. Cũng đúng, cây gỗ ấy là cây gỗ thần, là thần cây. Đền Ói là ngôi đền cuối cùng trong hơn một chục ngôi đền chùa đình của làng Kẻ Mơ còn lại cho đến năm 1967.


 


Nỗi nhớ xa xăm, tùy bút nhà văn Trần Huy Quang: [Kỳ 4] Gió trắng bay nghiêng4

Rồi tiếp theo những năm ấy thày tôi lại đi buôn bán xa hay giang hồ tứ chiếng, hảo hán làm cách mạng thế giới không biết nhưng cứ đi biền biệt


Tôi đi học trong thân thuộc những người không biết chữ, mệ tôi không và ả Ngân tôi cũng không. Anh em tôi, tôi và cậu em cũng đã phải đi học, thèm một thày giáo ở trong nhà mình. Làng tôi và có lẽ cả vùng, có tập tục là nuôi thày giáo trong nhà. Thày giáo ngày ấy, có người chỉ học đến Primaire, tức là học hết sơ đẳng yếu lược, thi đỗ Primaire là xin đi dạy, dạy từ lớp 5, lớp 4, lớp 3.

Chương trình cũng đã không còn như cũ nữa, nghĩa là ba lớp sơ học yếu lược, ba lớp tiểu học yếu lược mà học trò vào học lớp đầu tiên là lớp 5, lên lớp 4, lên lớp 3, lớp nhì, lớp nhất. Lớp nhì cũng chỉ một lớp, không học hai năm như trước. Có thầy giáo học cao hơn đã thi đỗ tiểu học yếu lược.

Cũng có thày giáo học hết cao đẳng tiểu học, có bằng Thành chung nhưng vẫn ở nhà dạy học. Như chú tôi có bằng Thành chung, xin đi học ba tháng sư phạm ở Nam Đàn rồi được chính quyền bổ đi dạy đệ nhất đệ nhị đệ tam. Lớp học thì học trong các miếu mạo đình chùa, sau cách mạng chính quyền mới lên đánh đổ chế độ phong kiến, đồng thời phá bỏ hết đình chùa miếu mạo văn bia hương ước là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Tôi đã từng học ở Đền Cửa Vũ, Cửa Ngõa, Nhà Thánh, Võ miếu, chùa Gáo, chùa Giáp… Giấy vở rất hiếm. Ngày ấy chú tôi bảo lấy giấy viết rồi, phơi nắng dăm bữa là trắng bong. Hôm sau chú cho mấy tờ giấy như thế nhưng viết nhòe, xấu thậm tệ. 

Tôi làm toán thường lấy gạch làm nháp toán trên sân cũng xong, cộng trừ nhân chia thoải mái. Nhưng khổ nhất là mực, mực tím hay mực xanh lá cây, mua từng gói nhỏ ở hàng xén về pha. Sách vở đựng trong cái túi vải mệ tôi khâu bằng tay, nhuộm bằng lá cây, còn lọ mực và cái quản bút thì đứa nào cũng kè kè cầm tay. Ngòi bút lá tre, cũng mua ngoài hàng xén, quản bút bằng gỗ.

Tôi hôm nào cũng bị đổ mực, bị mẹ mắng thường xuyên, đến nỗi thày tôi lâu lâu về, dặn đi dặn lại, cũng đổ, vẫn bị mắng. Hôm nay nữa nha, nếu còn làm đổ thì cho nghỉ học. Tôi sợ thày tôi, quyết tâm giữ cho được hôm nay. Nhưng giờ ra chơi vào, lộn xộn mình không làm đổ thì thằng khác làm đổ của mình.

Mà làm sao không đổ được chứ? Lọ mực thì nút bằng giấy, để trên bàn, lau nhau chạy vào chạy ra, đứng lên ngồi xuống, không thằng này thì thằng khác đụng đổ, không đổ của mình thì đổ của thằng khác. Trường học xa, tan học về đuổi nhau, trêu nhau chạy, đến trời cũng đổ. Mực dây đầy tay, đầy quần áo là chuyện thường. Dây mực vào vở, thày giáo phê “Bẩn quá” thày tôi kiểm tra vở hỏi, thày giáo phê chữ gì đây, tôi sợ quá nói “Bánh quà”. Thày tôi bật cười, cầm quyển vở đến chỗ mệ tôi bảo, thày giáo phê bẩn quá nó bảo bánh quà này. Mệ tôi không nói gì, mủm mỉm cười, tôi hoàn hồn… thoát.

Trước đây tôi cũng đã một lần vỡ lọ mực mà thoát đòn như mơ. Ông bảo, thế này thì phải đòn mới nhớ được. Ra lấy cái roi thật to vào đây. Tôi ra sân xách một thanh củi to vào, không hiểu sao vừa nhìn thấy ông đã bật cười. Thế là… cũng thoát. Khi ai đó đang cười thì chẳng có ai bị đòn cả. Một thời mực tím bút lá tre. Không lem nhem mực đổ đầy tay, đầy áo thì không phải là học trò sơ đẳng tiểu học thời xưa.  

Tôi thuộc lứa học trò thứ hai của nền giáo dục cách mạng. Lứa thứ nhất như chú Dung, chú Minh, cậu Hài tôi và vài người nữa trong làng. Các chú học trường Hồ Học Lãm bên làng Quỳnh, sau lên huyện cũ học tiếp thi đỗ Diplom thì đi học ba tháng về được bổ đi dạy, có lương vợ lương con bằng gạo. Tôi đáng lí là học trò của chú Dung tôi nhưng khi tôi học đệ nhất thì chú dạy ở làng Đạo Thuận Nghĩa. Mà trường làng tôi thì các thày nơi khác được bổ đến. Tôi nhớ bắt đầu học thày Chiếng, thày người nhỏ thó nhưng trắng trẻo.

Ngày ấy tôi mong ước nhà tôi nuôi một thày giáo. Rồi học thày La, người Bắc, hát rất hay và hay dạy hát cho học trò. Lên tí nữa học thày Khúy, thày Trác người làng trên. Thày Khúy hay bị đau, có khi nửa buổi thày đau cho trò nghỉ. Thày đến lớp chỉ cầm cuốn vở ghi tên học trò, toán hay chính tả thày đều nghĩ ra cho học trò chép và làm bài. Rồi lớp nhì học với thày Nguyễn Cảnh Hoàn người Đô Lương, đây là thày để lại cho tôi nhiều ấn tượng vì thày cho tôi lên lớp nhất mà tôi sợ không học lại trở về lớp nhì với thày.   

Thày giáo ở trong nhà học trò, ai muốn con học giỏi thì nuôi thày. Tôi mơ ước được thày mệ tôi nuôi thày trong nhà, tôi mong mỏi ghê lắm nhưng không được, nài nỉ mãi mệ tôi mới bảo, thày mi đi suốt không có nhà làm răng nuôi thày chứ. 

Mùa thu qua lúc nào, mùa đông rồi cũng đến, bắt đầu bằng những làn gió se se từ ngoài biển tràn vào chỉ như phe phẩy để các bà các chị đi chợ, đi hội, đi đường xa về quê nội hay quê ngoại quàng thêm cái khăn vuông nhung đen vào cổ mà có vẻ làm duyên hơn vì lạnh, cũng để cho gái cập kê như chờ chút lạnh mà má ửng hồng và ánh mắt thiếu nữ long lanh hơn. Vài hôm sau thì làn gió chướng mạnh hơn, rừng dương ngoài bờ biển đã vi vu gió lạnh, tiếng sóng, tiếng gió như hòa lẫn thành một tạp âm giống như tạp sắc của những ngày cuối thu.

Khi làn gió lạ lay lay những chiếc lá ngô đồng thì màu lá hàng tre, hàng duối phía nhà ông nội tôi không còn xanh mướt, óng ánh, lung linh như khi tầm tã tắm gội trong trận mưa lê thê cuối mùa mà đã đổi sắc, lá xanh còn ít ỏi chỉ như tô điểm cho tấm thảm vàng non và cây phượng đình Phúc nơi tôi học lớp đầu cao đẳng tiểu học, thả xối xả những chiếc lá vàng li ti rụng xuống mặt đất từng dòng từng dòng giống y những trận mưa lá.

Mùa đông là mùa gặt hái. Khi cánh đồng Cây Da chỉ còn trơ gốc rạ, bầu trời không trong xanh nhưng thoáng đãng vô ngần, những cánh buồm màu bạc của thuyền buôn nâu buôn măng trôi dưới sông Mơ về cửa lạch Quèn như đàn bướm sắp bay qua cánh đồng vừa gặt. Ngọn gió ban đầu vi vu nhẹ nhàng như nuối tiếc hương lúa chín vừa mất đi bỗng chốc ào ạt phóng khoáng tung bay đầy vẻ lãng du trong bát ngát đất trời.

Minh họa: Ngô Xuân Khôi.


Đám trẻ chạy đua với làn gió từ đầu này đến đầu kia cánh đồng. Chưa bao giờ có một không gian thoáng đãng và hào phóng đến ngẩn ngơ cho những trò chơi không bao giờ quên của tuổi ấu thơ. Hết đánh khăng, thả diều, chơi ù, chạy thi, mặc rét cởi hết áo vật nhau rồi đến săn chồn, săn chuột trong các lùm cây. Thỉnh thoảng mệt, đứa nào đứa nấy thi nhau thở bằng mồm, bằng tai, lại tụ nhau ngồi vơ rạ đốt cho khói bay lên trời, những đám khói cao vút làm trắng cả gió. Gió trắng kìa, bay ơi.

Mùa đông là mùa được ăn cơm mới, xuýt xoa ngon, một năm đâu được có mấy lần, còn được ăn cốm, ăn cơm nếp. Cơm nếp rưới mỡ phi hành thơm ngất mũi. Mệ tôi bao giờ cũng dành ra một thửa ruộng nhỏ, chắc chẳng được một sào, ở chỗ tốt nhất, thượng đẳng điền, để trồng lúa nếp. Gạo tẻ cả vùng còn chưa đủ ăn, năm nào, nhà nào cũng lo thiếu gạo, bát cơm xới ra chỉ thấy khoai hấp, khoai chiếm đến hai phần. Nhưng ai cũng phải có một khoảnh ruộng trồng lúa nếp, tết nhất phải gói bánh tét, bánh chưng, phải có bát chè bà cốt, mâm giỗ phải có đĩa xôi. Ngại nhất là trục lúa, không nặng nhọc gì nhưng đi vòng vòng mỏi chân, cứ gắng đi mệ nấu cho nồi cơm nếp, mệ tôi khuyến khích, tự nhiên đầu gối hết mỏi.

Lúa gặt về rải đều trên sân để trục lấy thóc. Trục lúa là một cái cối đá, kéo lăn trên đó, xoay hết vòng này đến vòng khác, bao giờ rơm rũ hết hạt thóc thì thôi. Người kéo thường là chú Thảo nhưng phải có người đẩy đằng sau phụ giúp nữa, hoặc là tôi hoặc Thân em kế tôi. Đi được vài chục vòng đứa nào cũng kêu mỏi chân. Chú Thảo không thấy kêu mỏi chân, chắc chú có kêu cũng không có ai kéo thay cho chú.

Nhưng khi trục xong một sân thì vui đáo để. Rơm rũ lên chất thành đống, lúa hót lại một đống lỡ đêm mưa. Mấy đứa bạn và anh em tôi đã có lần hứng lên chui cả vào đống rơm ngủ ngoài sân, rơm rặm cả mặt nhưng chẳng đứa nào kêu, rúc rích một lúc ấm ngủ mê mệt. Mùi cơm nếp đã bay ra ngào ngạt, thèm chảy nước dãi.

Chỉ là cơm nếp rưới tí mỡ chứ chưa phải xôi đậu, xôi vò, xôi gấc… mà cũng chỉ năm một lần, thấy sao nó thơm lừng, ngào ngạt, lôi cuốn hấp dẫn, sảng khoái, mê li như Bụt hiện, như vì sao trên trời rơi xuống và nó mãi mãi vẫn là trong niềm mơ ước của tuổi ấu thơ tôi, giống như ngự tiệc trên miền Thiên Khải. Cơm nếp đơm ra mỗi người một bát trong nồi đã hết, mệ tôi miệng bát, ả Ngân tôi miệng bát.

Ả Ngân còn ở trong bếp, trong đó vọng ra tiếng ti tách. Chao ôi, cốm, cốm, mệ lại cho ăn cốm nữa thật là tuyệt vời! Mệ tôi bảo, hay là mệ gửi cho thằng Thân ít cốm, ngoài Hà Nội làm răng có. Thầy tôi đã mang Thân, em trai kế tôi, ra Hà Nội học tiểu học, chắc cho đỡ nhớ con. Thân cũng đã viết thư về cho mệ, chỉ được ba dòng, chắc thày tôi bảo viết, nói học Trường tư thục Đoàn Kết, thầy hiệu trưởng là Khuất Duy Các. Ả Ngân tôi bảo, biết khi mô thày về mà gửi. Mấy đứa tôi không còn để tâm đến chuyện ấy, vì đang nhâm nhi hương vị cốm mà một năm mới có một lần.

Áo bà ba bao giờ cũng có hai cái bao đằng trước, cho nắm cốm vào bao, thỉnh thoảng nhắm vài hột, mùi cốm thơm tỏa ra. Mi ăn chi đó, cốm à? Không. Rõ ràng miệng mi còn thơm mùi cốm. Cho mỗi đứa nhúm ba ngón tay, đâu chỉ được mươi hột, thế mà mặt mày đứa nào cũng rạng rỡ, ngời ngời hẳn lên. Ôi niềm vui tuổi thơ, xin đừng tìm ở đâu xa xôi, không ở nơi dát vàng dát bạc, tráng lệ nguy nga, niềm vui tròn đầy của tuổi thơ tôi nằm trong tấm áo vải mệ tần tảo dệt nên và nhuộm nâu phơi trong cái nắng chang chang xứ Nghệ trên sân nhà.


 

Nỗi nhớ xa xăm, tùy bút nhà văn Trần Huy Quang: [Kỳ 3] Chuyện huyền dị trong lùm cây

Thứ Tư 27/07/2022 , 06:40 (GMT+7)

Không chuyện gì hấp dẫn, lôi cuốn và ấn tượng nhất đối với bọn trẻ bằng chuyện ma, nghe xong đứa nào đứa nấy són hết ra cả quần.


Có chuyện Phạm Nhan rất lạ.

Con nít làng Mơ, không tụ lại với nhau thì thôi chứ mỗi khi tụ lại độ chừng năm bảy đứa là chỉ kể chuyện ma. Chuyện ma ở làng thì nhiều, mỗi cái cồn cái lùm là có một loại ma, ma lợn, ma chó, ma chết trôi, ma thắt cổ lè lưỡi dài hàng gang, ma đàn bà chết oan là nhiều nhất.

 

 
 

Cồn Cao trập trùng gò đống cạnh con đường đi ra biển, ở đó đêm nào cũng thấy ma chó. Ma chó nếu ai gặp chết ngất luôn. Trong đêm trời tối mưa dầm, đom đóm bay mù mịt loạn xạ, sẽ thấy hai con mắt xanh lè, hàm răng trắng nhởn và bên dưới là cái lưỡi đỏ như than dài như một lưỡi kiếm, đó là những con ma chó dẫn thần trùng đi bắt người. Chu cha, hãy hình dung xem, trời tối mù mịt, gió lạnh thổi hoang vu chợt nhìn thấy một con chó trắng, lưỡi dài như thanh kiếm, đỏ rực phát sáng hồng ra xung quanh, trên cái lưỡi khủng khiếp ấy là hai con mắt xanh lè, nhìn vào chỉ thấy lạnh xương sống.

Lùm Liêu cũng là một lùm cây hoang, có một cái miếu cổ đổ nát từ lâu, dưới gốc cây gạo bị sét đánh chết có nhiều đồ sành còn nguyên, có cả đầu lâu người trắng hếu, là chỗ ma họp chợ. Chợ ma chưa ai trong làng được đến họp, không biết mua bán loại hàng hóa gì, không thấy ai nói. Nhưng về ban đêm, từ trong làng, đêm thanh vắng, ai cũng nghe thấy tiếng ồn ào mua bán của các phiên chợ ma họp ở lùm Liêu. Có người bảo, phiên chợ tết năm Tí và năm Tuất, ma đánh ghen nhau tơi tả, loạn cả chợ, quần áo, tóc tai cấu xé nhau tanh bành. 

Không chuyện gì hấp dẫn, lôi cuốn và ấn tượng nhất đối với bọn trẻ bằng chuyện ma, nghe xong đứa nào đứa nấy són hết ra cả quần. Nghe mê li, nghe như nuốt từng lời, sợ đến run cầm cập mà chẳng đứa nào bỏ dở không nghe cho hết. Hôm sau nếu có đứa nào kể lại cả bọn lại ôm chặt lấy nhau nghe cho bằng hết. Nhưng chuyện ma có rùng rợn đến mấy cũng không bằng chuyện con quỷ Phạm Nhan ở cây gạo trong vườn nhà ông Ninh Được. Con quỷ này mới kinh. Nó là quỷ chứ không phải ma, nó không chờ những đêm mưa to gió lớn sấm chớp đùng đùng mới xuất hiện như ma chó, ma lợn, ma chết trôi mà nó như ở cùng với người, ai làm gì nó cũng biết, ai định mua bùa phép trừ nó, nó cũng biết. Thỉnh thoảng những đêm trăng nó hiện ra, áo trắng quần trắng tóc trắng, cao lêu đêu đến ba mét, nó cứ phất phơ, đung đưa dọc đường lẫn trong ánh trăng, tóc tai quần áo bay lên như phất cờ. Có người mang dao bôi máu chó đuổi theo nó, đến cạnh thì nó biến mất, rồi nó xuất hiện cười như điên đằng sau lưng người đi tìm giết nó. Quả phục kích này làm cho kẻ kia bạt vía kinh hồn, có người về ốm mấy tháng mới lấy lại hồn vía.

Khi thày mệ tôi vì là con trưởng nên lại trở về nhà từ đường, tôi cũng từ giã một vùng kí ức tuổi thơ êm đềm chứa đầy những tiếng chim gù gọi đôi khi vườn hoang đổi màu lá vàng trên những chóp cây cao độ cuối thu. Chỗ ở cũ giao lại cho hai chú, tức là chú Đang và chú Tự khi các chú cũng đã có gia đình. Ngày mới trở về từ đường, tôi còn nhớ cứ chiều đến lúc hoàng hôn nếu không thấy mự Đang trên khung cửi là cả nhà loạn lên. Thường hai khung cửi hai người kê gần nhau trong nhà ngang, mệ tôi phải trông chừng mự nhưng có lúc sơ ý nhìn lại thì mự đã biến đi lúc nào không biết. Khi ấy cả nhà, cả hàng xóm hò hét nhau tỏa đi tìm mự. Cả xóm đốt đuốc đi tìm mà có khi không thấy. Ngoài biển thì rừng phi lao mênh mông. Trong đồng thì gò đống, quanh co bờ bụi cao thấp, bờ rào tre pheo dày đặc kín mít. Cồn tha ma thì chẳng ai dám xông vào. Nhiều lần mãi nửa đêm vẫn không tìm ra mự. Người ta bảo mự bị con Phạm Nhan bắt, cứ gần tối là mự lẻn đi, bị nó bắt mất hồn cứ theo nó mà đi, dẫn đi đâu đi đó. Cả đêm chẳng có ai yên ổn, lúc lúc có người bảo, hay là nó bắt mự giam ở miếu bà cô. Miếu bà cô là miếu hoang từ lâu, mọi người lại đèn đuốc đi đến đó nhưng cũng không có mự, không có vết tích gì. Sáng ra lại đi tìm. Có người mách nghe tiếng rên trên cây gác lùm ông Tơng Xơng. Lùm ông Tơng Xơng? Lùm này chỉ có tre và cây gác, loại cây này lá rất độc mà quỷ không dám ở mà. Mọi người vào lùm tìm mãi không thấy, định bỏ đi thì nghe tiếng rên như ở đâu trên trời. Nhìn lên thì ra… mự ngồi vắt vẻo trên chạc ba cây gác, mặt mày tái xanh. Moi người gọi mự xuống đi xuống đi nhưng mự chỉ lắc đầu, tay ôm riết lấy chạc cây. Lạ quá, không hiểu sao mự leo lên cây gác to và cao như vậy. Mự đâu phải là người bạo dạn leo trèo. Mà làm sao mự leo lên được hay ai đưa mự lên. Chú Đang tôi mang thang tre trèo lên, buộc dây vào người mự rồi dìu mự xuống. Một cuộc giải cứu vã mồ hôi mới đưa được mự xuống đất an toàn. Trường hợp như đêm ấy cũng hiếm, lâu lâu mới bị. Còn thì sáng hôm sau tỉnh ra, mự lặng lẽ trở về nhà, mặt mày nhợt nhạt thất thần, quần áo thì lấm lem bùn đất. Hỏi đêm qua mự ở mô thì bảo Lùm Liêu. Lùm Liêu là bãi tha ma mà chuyện ma người, ma lợn, ma chó không chỉ đầy rẫy trong cửa miệng dân gian mà có người còn thề là đã thấy ma tụ họp, nhảy múa trong Lùm Liêu lúc nửa đêm. Nghe là mọi người đã lạnh xương sống.

Mệ tôi hỏi, ai bắt mự đi, mà sao đi không nói với tui. Có ai bắt tui đi mô, hắn cứ gọi, giục đi giục lại, bảo ra nấu nước cho các quan, mọi người chờ. Làm gì có người ở ngoài ấy, chỉ có ma thôi chứ? Toàn người, chẳng có ma nào, tui không thấy ai là ma cả. Có gặp quỷ không? Cũng chẳng thấy quỷ. Toàn người mà. Trông ai cũng quen quen nhưng không nhận ra ai cả. Họ đang bàn cái chuyện gì đó quan trọng lắm mà cũng bí mật lắm. Mự có nghe họ bàn chuyện gì không? Tui có được vào đâu, tui phải nấu nồi nước to như cái chậu, nấu mãi không sôi, sờ vào nước vẫn lạnh ngắt.

Tui ngồi nghe lỏm các bà nói chuyện mà thấy lạ. Ai cũng bảo cái cồn tha ma ấy đầy ma, ma già ma trẻ, ma cụt đầu đêm tụ lại hát đò đưa, hát ví dặm với nhau cho đến khi gà gáy canh ba. Thế mà mự lại bảo toàn người, người sao bắt mự đi được? Hay là ma biến thành người?

Về sau, khi chiều chiều là mệ tôi phải giữ chặt lấy mự. Khi thấy mự nhớn nhác sắp bỏ chạy là hô hoán, ai nghe được liền đến giữ chặt mự, rồi đổ nước tiểu lên mặt, cạy răng ra đổ cả bát vào mồm. Một lúc sau, mự dần dần không chống cự nữa rồi tỉnh lại. Người ta bảo con Phạm Nhan này ở cây gạo nhà ông Ninh Được, chưa có cách gì để đuổi nó đi. Hỏi mự những đêm bị bắt đi như thế mự ngồi có nhớ gì không mự nói tui không biết gì cả, chỉ xem người ta nhảy múa đến sáng thì đi về, có người hẹn tối mai lại đến, còn hát tiễn nhau, Ra về bẻ lá cặm đây, từ mai ta cứ chốn này mà chơi… Mệ tui hỏi ai hẹn mự, mự cúi xuống chỉ lắc đầu.

Dần dần người ta cũng quên chuyện đó đi, không nhớ cho uống loại thuốc gì, cuối cùng mự cũng khỏi bệnh. Chuyện con quỉ Phạm Nhan không phải chỉ ở làng tôi mà có ở nhiều vùng, thế mới lạ. Không biết sau này người ta đã có cách gì trừ được nó hay đã đuổi nó đi các làng khác, cũng không nghe ai nói gì về chuyện đó. Đàn bà con gái sau chẳng có ai bị như mự tôi nên chuyện Phạm Nhan cũng như chuyện ma chó thần trùng lè lưỡi về bắt người cũng rơi dần vào quên lãng.

Làng quê khi có điện, không có chỗ nào gọi là tối tăm nữa cả, mọi sự việc đều được ánh sáng nhận thức chiếu rọi. Những lùm cổ thụ, bãi hoang hay miếu cổ làng tôi dần dần cũng khai hoang hết, tấc đất tấc vàng, nửa làng phải đi tìm đất mới sinh sống. Không còn gò hoang miếu cổ cũng đồng thời mất đi vẻ huyền bí thần tiên và ma quái trong đời sống tinh thần của những đứa trẻ lên năm lên mười với trí tưởng tượng vô bờ về giới hạn và màu sắc, cuối cùng trơ trọi còn lại những gì có tính kim tiền.




 

Nỗi nhớ xa xăm

tùy bút nhà văn Trần Huy Quang: [Kỳ 2] Bảng lảng chuông chùa

Thứ Ba 26/07/2022 , 07:55 (GMT+7)

Năm tôi đi bộ đội, đóng quân ở Can Lộc, một lần tôi đã leo núi Hồng Lĩnh, vịn cây trong mây, tìm đến chùa Hương Tích xem còn dấu vết gì của sư nữ.

Cây gạo cổ quái, không có lá, mọc giữa bờ rào hai nhà, cạnh con ngõ ra đường cái. Nhà bên kia đang lên đồng, múa hát trống phách ầm ĩ từ khi nào. Sau mùa lễ hội Đền Qui Lĩnh, hoa gạo đỏ rực rỡ lên tận trời. Hoa rụng xoay tròn như múa, rải đầy cả vườn.


Tôi nhặt những bông hoa gạo đầu mùa, mơn man những cánh hoa mềm và đỏ thắm trên tay, mặc kệ ông nội và o Sáu đang ăn cháo buổi sáng. Khi tôi vào ông tôi ăn đã xong, o bê bát cháo ra cho tôi và húp thử một miếng xem nguội chưa, tôi dỗi khóc và không chịu ăn. O tôi bực quá phát cho một cái vào đít lại đúng vào lúc dượng Trình đến chơi. Ông nội tôi đã gả o Sáu cho dượng Trình năm ngoái, rằm tháng bảy hay tết nhất đều đưa lễ đầy đủ nhưng o Sáu tôi ngủng ngẳng lại rất sợ ông nội tôi biết. Tôi níu lấy tay dượng Trình, lúc ấy đang chào ông nội tôi, nói o Sáu tôi ghét dượng, không lấy dượng mô.

Chưa nghe xong o Sáu đã giằng lấy tay tôi kéo lại phát tiếp cho tôi liền hai phát rồi bỏ chạy trước khi thấy ông tôi trợn mắt lên và dượng Trình thì như người chết đứng, không động đậy. Vì câu nói cho bõ tức ấy mà tôi bị mệ tôi phạt một roi chứ o Sáu cũng không bỏ được dượng Trình. Mấy năm sau làm đám cưới, o ở với dượng được hơn năm rồi lại bỏ nhau. O Sáu tôi xinh đẹp nhất nhà, mắt lúng liếng lại đen như hạt nhãn, miệng cứ như cười, mệ tôi bảo o đã có hứa hẹn tình ý gì đó với thày giáo làng, người vùng khác. Dượng Trình đi bộ đội lên tướng, đi xe con về thăm quê, còn o Sáu tôi cũng hát xướng, cũng công tác nhưng vì lúng liếng, chòng chành mà lận đận mãi mới yên bề.

Chắc đó là thời gian thày mệ tôi mới ra ở riêng, làm nhà trên đất ông ngoại tôi cho. Làng tôi là vậy, con cái đứa nào có gia đình trước cho ra ở riêng mà tự lập, lo làm ăn xây dựng nhà cửa, sau đó con trưởng có người về từ đường, có người không. Nhà tôi ở riêng không biết bao lâu, tôi chỉ nhớ, một buổi chiều đã mờ đất mà ba chị em còn mải chơi ngoài bờ ruộng. Xung quanh còn hoang vắng, phía sau là vườn cây dại um tùm, phía dưới nữa mới là nhà ông ngoại tôi. Cũng ở đó, một lần mẹ tôi nấu cơm, gạt đám than hồng ra để vần nồi cơm thì một hòn than văng lên chân cậu em kế tôi gây bỏng, vết sẹo ấy khi lớn lên vẫn còn. Tần tảo của cha mẹ, hiu hắt của bầy con giống như vết sẹo ấy trong kí ức.

Dù xa thẳm trong nỗi nhớ tuổi thơ, tôi vẫn còn thuộc mọi thứ ở nhà ông ngoại, chắc hồi bé tôi chơi ở đó rất nhiều. Cụ ngoại tôi khi ấy còn sống, đã già lắm, râu dài xuống đến ngực, trắng như tơ, quắc thước. Cụ ngoại và ông ngoại tôi đều là phó mộc, các cụ để lại căn nhà cổ còn lại đến ngày nay. Đằng trước nhà ngoại có con ngõ nhỏ chạy qua, có một cái giếng riêng, chạy dọc ngõ là hàng cau rễ mọc tua tủa trên gốc, trắng nõn. Khi tôi nghe mự Thìn Cảo kể chuyện đời xưa thì cứ hình dung cái giếng của cô Tấm giống như cái giếng của ông ngoại tôi vì bốn thành giếng cũng có rêu xanh và cũng có một con cá đen đen ở dưới đó. Sau này đọc truyện cổ tích mới biết, hóa ra những chuyện như Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt, Tấm Cám… đều là chuyện đời xưa tôi đã từng nghe đi nghe lại mự Thìn Cảo kể cho bọn con nít nghe trên những cối giã gạo vào các buổi tối khi công việc đồng áng ban ngày đã vãn.

Hồi ấy, tức là cả thời xa xưa, mỗi thôn hay giáp chỉ có một cái giếng. Giếng xây bằng sò đào ở mỏ sò sâu đến ba bốn mét ngoài bãi biển lên, giống như đá ong ngoài Sơn Tây. Mỏ sò rộng độ vài cây số vuông, sát bờ biển, vết tích còn lại là vùng đất trũng chỉ giồng được một vụ khoai, nếu năm nào lụt sớm thì mất trắng. Gạt một lớp cát mỏng độ dăm gang tay là gặp lớp sò sảnh kết tinh rắn chắc dày dưới lòng đất, chỉ cần dùng thuổng chắn thành từng viên vuông vức đưa về xây nhà. Mỏ sò ở đây không lớn như ở Phủ Diễn nhưng cũng đủ cho dân Kẻ Mơ xây nhà, xây giếng, xây các công trình tôn giáo, tín ngưỡng vững bền hàng mấy trăm năm.   

Ít nhà có giếng xây riêng như nhà ông ngoại tôi. Dân cả thôn Văn Thơ ăn chung nước giếng Thơ, xây sò đào, hình tròn, nước bốn mùa trong veo. Giếng Thơ là nơi tụ hội gặp gỡ của những nam thanh nữ tú tuổi cập kê mà không phải đợi đến ngày lễ hội. Là nơi chiều chiều các cô yếm thắm răng đen nhức tóc đuôi gà vắt vẻo sau cái khăn mỏ quạ, duyên dáng quảy đôi nồi đình ra giếng gánh nước về ăn, nơi các chàng lực điền quần còn xắn móng lợn, hạ cái cày xuống vệ đường đến xin các o mo nước uống hay rửa chân tay sau buổi cày. Là nơi các bà các chị đi bán nái bán vải về hỏi thăm nhau chợ nào bán được giá. Nhưng đặc biệt nhất là nơi các nàng yếm thắm lưng ong suốt ngày gò lưng trên khung cửi và các chàng trai vỡ giọng cày cuốc ngoài đồng, giờ được dịp ‘lúng liếng là lúng liếng ơi’, để nảy nở những mối tình muối mặn gừng cay mang nặng chua ngọt của xứ sở. Ai mà biết trước được, ngọt bùi không vương chút đắng cay, nước mắt và để lại những tiếc nuối Non xanh nước biếc xin đừng quên nhau mới tạo nên cái chất mặn mà, đằm thắm, muối mặn gừng cay gọi là đặc sản của gái xứ Nghệ.

Giếng tên Thơ mà có lúc cũng thật là thơ. Cạnh giếng có một cây vông, cành lá xum xuê, rợp bóng cả một vùng. Có người nói là cây ngô đồng, chắc trong làng đã có chàng trai Chiều chiều ra đứng tây lầu tây, thương cô gánh nước tưới cây ngô đồng?

Sau cây vông là nhà ông Gia Huệ, một cái nhà bốn gian, tường xây lợp ngói âm dương nhưng đã rêu phong, dột nát tàn tạ. Thày tôi nói, ông là nhà cách mạng, năm Xô Viết Nghệ An ông bị đi tù xa lắm, rồi được thả, ông về lại tiếp tục hoạt động cách mạng, sau Cách mạng tháng Tám ông là chủ tịch đầu tiên của xã này.

Sau nhà ông Gia Huệ là nhà ông Xin Được, mẹ tôi gọi ông bằng dượng, nhà ông nghèo lợp rạ nhưng có cây táo quả vàng rực chúng tôi phát thèm. Mùa táo chín ông bà xâu lại thành từng xâu đem chợ bán. Tuy nhiên, mùa táo không làm cho bọn con nít ngất ngây bằng mùa ổi. Nhà ông Xin có hẳn một vườn ổi sau nhà, đủ loại, vàng ruột, đỏ ruột hay trắng ruột đều có và rất ngọt. Bọn tôi đi học thích đi qua con đường ngang vườn ổi để xuýt xoa, để hít hà mùi ổi chín thơm lừng. Trong sương gió dịu nhẹ ban mai, mùi hương ổi càng đậm đà, càng làm xao xuyến cái bụng vốn chỉ có củ khoai lang luộc của bọn háu ăn. Rất nhiều những quả ổi chín vàng bị cắn một nửa rơi vãi dọc đường. Người lớn bảo đó là những quả bị dơi ăn rụng xuống nhưng chẳng đứa nào tin. Ma ăn thì có. Người lớn hay nói khác đi để cho bọn con nít khỏi sợ ma. Chẳng thấy dơi đâu, chỉ thấy chim đỗ trĩu cả cành cây. Nhiều đứa còn cãi mẹ nó đẻ em bé ở nách vì mệ tau nói thế…

Gần giếng Thơ, phía nam, cách độ vài trăm thước là chùa Giáp, ngôi chùa cổ kính, tường xây ban bệ trước sân đều đã đen xỉn, cây đại cũng đã già lão lắm, không còn sức để ra lá ra hoa. Chùa này là chùa của thôn, của giáp. Chùa của làng Phú Minh là chùa Gáo. Chùa có ba tòa nối nhau, có tháp chuông, có con voi cao như cái nhà, trát vôi, đứng dưới bóng cây xoài đồ sộ xanh tươi. Sau chùa còn có mấy cái tháp là mộ của các đời sư trụ trì chùa Gáo. Chùa có ruộng chùa, mấy sào đằng trước cho sư cày cấy nuôi sư. Khi tôi học lớp nhì lớp nhất, chùa đã vắng hoe. Tượng ông Thiện ông Ác, ông béo ông gầy bị đem ra ruộng làm bù nhìn đuổi chim, chim không dám bén mảng mà con nít cũng hết hồn. Khi tan học mấy đứa bao giờ cũng rẽ vào chùa ném rụng những quả xoài còn sót lại hoặc hai đứa rủ nhau vòng tay ôm xem cột chùa to đến mức nào.   

Chùa Giáp tuy nhỏ nhưng lại có tiếng là linh thiêng, nó vừa u tịch trong sự cổ kính, vừa bảng lảng như trong mây rồi hiện dần trong ánh tà dương làm hút hồn du khách thập phương một thời. Bắt đầu cũng do một giai thoại.

Minh họa: Ngô Xuân Khôi.

 

Năm ấy, chùa Giáp chưa có sư trụ trì, thỉnh thoảng sư trên chùa Gáo xuống tụng kinh, giảng pháp khi các bà phật tử yêu cầu. Rồi một hôm sư trụ trì chùa Gáo đưa một nhà sư trẻ, lại là sư gái về chăm lo hương đèn tại chùa Giáp. Thế là từ đó chùa Giáp, trong sự thanh vắng chiều tà, trong vần vũ làn sương tháng giêng lại khắc khoải tiếng gõ mõ tụng kinh và thướt tha như có như không bóng áo nâu sồng. Không ngờ sư nữ chùa Giáp là một cô gái mới mười tám tuổi lại rất xinh đẹp. Bắt đầu không có du khách nào để ý nếu như không có sự xì xào tiếc nuối của các bà phật tử những ngày sóc vọng ra hương khói nơi cửa Phật. Tấm thân con gái dù được ẩn kín trong vẻ nâu sồng, vẫn toát ra vẻ thướt tha kiều diễm của một dáng vẻ tiểu thư con nhà giàu có đôi mắt nữ sư luôn nhìn xuống buồn thăm thẳm nhưng vẫn lộ ra hàng mi rợp, đen láy của một đôi mắt mơ màng như sương khói. Nhà sư người xứ đâu không ai biết, nhưng chắc xa, giọng nói không phải người trong vùng, và vì sao một cô gái trẻ đẹp như vậy phải xuống tóc đi tu, quyết rũ bỏ niềm vui trần tục… cũng không ai biết.

Cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổi lên, đền Nghè, nhà Thánh, miếu Võ, chùa Gáo, chùa Giáp là di sản của chế độ phong kiến đế quốc nên là đối tượng của cách mạng. Không ai đến chùa hay đền thắp hương cầu Phật nữa. Tất cả hương tàn khói lạnh. Các nhà sư bỏ chùa, không biết đi đâu. Chỉ riêng sư nữ chùa Giáp vì trẻ và xinh đẹp nên còn để lại chút ít đồn đoán. Người thì bảo nhà sư hoàn tục, sau đi hoạt động cách mạng. Lại có người nói nàng rời chùa Giáp trong một ngày sương mù giăng đầy đất trời, theo hướng Nam đi mãi, rồi lên đến tận đỉnh Hồng Lĩnh, tụng kinh mấy đêm liền trong chùa Hương Tích, nàng tìm một cái hang ngồi thiền hai mươi ngày rồi hóa. Có người nói, sau khi nàng đi độ non tuần trăng, có một chàng thanh niên tuấn tú, ăn vận sang trọng, tìm đến chùa Giáp hỏi tin nàng sư nữ… Người làng kể lại với chàng trai nhà sư đã biến thành sương bay đi chứ không còn là người trần. Chàng trai có lẽ không tin nhưng trước mắt chàng, trong ánh bạch lạp leo lét của một niềm tin sắp tàn, chàng trai chỉ thấy am thanh cảnh vắng, hương nhạt khói tàn tưởng người vừa ra đi tuần trăng mà như đã trăm năm.

Di tích nơi nhà sư nữ chùa Giáp hóa vẫn còn, từ chùa Hương Tích Hồng Lĩnh leo lên đó mất khoảng tiếng đồng hồ là gặp, ngày nay du khách thỉnh thoảng có người nhớ. Năm tôi đi bộ đội, đóng quân ở Can Lộc, có một lần tôi đã leo núi Hồng Lĩnh, vịn cây trong mây, cố tìm đến chùa Hương Tích xem còn dấu vết gì của sư nữ chùa Giáp, tôi đã thấy một nhà sư còn trẻ đang tụng kinh. Qua làn hương khói u tịch, tôi thấy nhà sư sao giống chàng trai năm xưa về chùa Giáp. Trên đời không thiếu gì điều phi lí và kì lạ, tôi vẫn cứ tin nhà sư này chính là chàng trai đã về tận chùa Giáp, làng Mơ để tìm nàng.

 

Nỗi nhớ xa xăm

tùy bút nhà văn Trần Huy Quang: [Kỳ 1] Thiên thần áo rách

Thứ Hai 25/07/2022 , 07:42 (GMT+7)

Chúng tôi là hiện thân của Thiên Thần, lớn lên trong lời ru chưa bị ô nhiễm bởi những tuyên truyền hận thù độc hại, chơi với cỏ cây, ruộng đồng, sông núi nguyên sơ.

 

Nhà văn Trần Huy Quang.

.

Làng tôi vốn vậy như từ thời xa xưa, mọi thứ tính theo âm lịch. Phiên chợ, giao dịch, mua bán, sinh đẻ, tang gia, nông vụ, con nước lớn hay ròng, cưới xin, động thổ làm nhà, nhất nhất đều theo âm lịch. Mặt trời thì xa, bao la vô tận, vô cùng, mặt trăng thì gần, dịu dàng như bạn, nhất là những đêm trăng sáng vằng vặc. Đêm xem trăng sao biết mưa nắng, nhìn ráng chiều, màu mây hoàng hôn, mỡ gà thì gió, mỡ chó thì mưa, chuồn chuồn bay cao nắng, bay vừa thì nhâm, kiến, cây cỏ, mèo chó, chớp nháy ở hòn Mê hay hòn Câu, vân vân, để đoán định mưa nắng gió bão mà giong buồm ra biển hay gieo hVới mệ tôi, thời gian đo đếm như trong mộng, trong mơ, khoảng khoảng, hoặc đêm dài năm canh, dù trống canh chẳng còn. Canh hai đi nằm canh tư đã dậy, nghe nhiều tôi đoán là thức khuya dậy sớm. Chê ai thì mệ tôi bảo ngủ ườn xác ra, mặt trời lên một con sào mới bỏ chân xuống giường. Ai đưa con sào đến được chân trời mà đo là một hay hai? Khen ai thì bảo đứng bóng còn chổng mông ngoài đồng. Giữ khách lại chơi thì trách, ngồi chưa dập miếng trầu đã đòi về? Ngồi chơi chưa dập miếng trầu là bao lâu, chịu.

Mệ tôi là người đàn bà rất âm lịch, khi tôi lớn lên bà còn mặc váy sồi nhuộm đen, áo cánh nâu hoặc lụa màu mỡ gà, chít khăn nhung hoặc nhiễu. Bà luôn ăn trầu, mùa cau thì ăn cau tươi, hết mùa thì ăn cau khô, thêm mảnh vỏ chay, môi đỏ sẫm hai hàm răng đen nhưng nhức.

Đến khoảng những năm chiến tranh chống Mỹ, các bà quê tôi mới bỏ váy nhuộm bùn mặc quần đen, nhờ vào thời bao cấp nhà nước bán vải phíp các bà mặc quần thấy đẹp và gọn thế là cả làng thay đổi. Người chít khăn nhung cũng chỉ còn vài chục bà, khi họ về với tổ tiên thì hình ảnh người đàn bà áo cánh nâu, răng đen chít khăn mỏ quạ chỉ còn trong sách vở.

Mệ tôi có hôm đi chợ bán khoai khô, về cười nắc nẻ với mự Trường Cơu, bữa ni khoai bán được giá hơn hôm qua, một nồi đắt hơn một đồng. Một nồi là bao nhiêu cân, chắc một nồi vừa nấu ăn một bữa. Mười nồi thì tính một lường, nhiều hơn thì tính hai mươi lường, ba mươi lường, bốn mươi lường… Lường không biết là bao nhiêu, có giống đấu hay thưng của các vùng không? Thóc trong nhà tính bằng cót, "năm nay cả vụ mười gom góp chỉ được lưng cót thóc", cả làng không có ai có nổi hai cót thóc.

Người đi biển về nói với nhau, "tui thả lưới chỗ năm sải nước", tức là chỗ nước sâu năm sải tay. Dưới sải tay, đo gì ngắn hơn thì thước, một thước bằng hai gang. Dưới thước là tấc, một tấc lên trời, bọn con nít chịu, không biết một tấc là bao nhiêu.

Làng xóm thế mà vui ra phết, lại ấm áp, đo đếm tính toán với nhau lỏng lẻo, đại khái, lọt sàng xuống nia, chín bỏ làm mười, có khi mười một cũng bỏ thành chín. Ân nghĩa sao đong đo tính đếm chi li được? Đi ăn giỗ thì bao giờ cũng có phần mang về. Giỗ nhỏ không mời ai thì biếu đĩa xôi và miếng thịt luộc. Con nít được chia cục xôi chỉ bằng quả ổi đã sướng lắm, nhớ suốt đời. Nhà ai có việc hiếu hay hỉ đều coi như việc của cả xóm, không nề hà, không đợi gia chủ có lời, người cao tuổi thì sắp xếp, con nít thì thực hiện, ấm áp vui vẻ cả ngày. Con nít đi chơi, sẵn đâu ngủ đó như ngủ ở nhà, cửa giả ít khi phải đóng. Không nhà nào có cổng, cành tre rấp ngoài ngõ cũng không.

Minh họa: Ngô Xuân Khôi.
                                                  Minh họa Ngô Xuân Khôi
Hết việc đồng áng thì đan lưới, tay đan dẻo như múa. Ông già đan rổ, đan sàng, đan mẹt, đan rá, ngồi đan dưới ánh trăng, ánh sao mờ mờ mà vẫn đẹp. Tay đan miệng hát, ngâm Kiều, lẩy Kiều, không Kiều thì hát phường Vải, Đò Đưa cứ như thôn xóm đang trong ngày hội dù là hồi chiều có mấy bà chửi nhau vì mất gà.

Đèn thắp bằng dầu lạc, đĩa dầu trong cái quang sắt treo lên, ngọn bấc xốp ngấm dầu cháy leo lét, nhẹ như bấc là thứ bấc này, chỉ để cho người dệt vải và con nít học bài. Có lúc đĩa đèn cạn dầu ngọn bấc cháy cả vào trong lòng đĩa, mẹ tôi bảo tôi lấy sợi bấc khác thay. Tôi rút một sợi trăng trắng trong cái thúng của mẹ tôi, sợ không phải, đưa đến cho mẹ tôi, mẹ tôi bảo, đúng bấc rồi con, mọi sự cũng cần coi nhẹ như ngọn bấc đó con.

Đĩa dầu thứ hai chỉ dành cho mẹ và ả Ngân tôi dệt, còn con nít hết đĩa dầu thứ nhất là đi ngủ. Tôi mơ những giấc mơ chạy theo những con diều giấy bay trên cánh đồng cây Da vừa gặt trong tiếng lách cách đều đều của những khung cửi dưới nhà như tiếng ru dìu dặt dẫn tôi đi từ giấc mơ này đến giấc mơ khác.

Suốt năm, suốt tháng, suốt mùa lam lũ không ngơi tay. Chỉ có học trò mới có ngày chủ nhật. Tôi không nhớ những ngày chủ nhật thời đó anh em tôi có phải đi gặt, đi cấy hay làm cỏ khoai cỏ lúa gì không, tôi hoàn toàn không nhớ, tôi chỉ nhớ ngày nghỉ học là ngày hội re chim, là giấc mơ của bao la trời đất, đánh khăng, đánh đáo, chơi ù, thả diều, re chim, săn cáo… hết trò này đến trò khác như vô tận.

Chúng tôi là hiện thân Thiên Thần Áo Rách nhưng vẫn là những Thiên Thần, được hít thở khí trời trong veo, lớn lên trong lời ru chưa bị ô nhiễm bởi những tuyên truyền hận thù độc hại, được chơi với cỏ cây, ruộng đồng, sông núi Tổ tiên nguyên sơ mơn mởn xanh với màu xanh tự nhiên của sự sống đất trời, chưa có mối nguy nào phải đề phòng hay bị cấm đoán.

Quả là đất của Ta, trời của Ta, cây xanh, nước ngọt, gió lành cho người cày cấy. Mọi sự bình an, hòa thuận, trong lành giữa người với người, làng này với làng kia, giữa con người với ruộng đồng từ thời xa xưa và mong mãi như thời xa xưa ấy.

Minh họa: Ngô Xuân Khôi.Minh họa: Ngô Xuân Khôi.

Mầm ngô, mầm lạc, mầm đỗ vừa nhú lên khỏi mặt đất một chút trăng trắng rất non tơ là thứ mà lũ chim khát khao thèm muốn. Sáng ra trên bờ tre đã dày đặc từng đàn chim sáo sậu, chèo bẻo, chào mào… bay lên bay xuống. Bọn ác là, quạ đen cậy mình to con không thèm bay lên bay xuống, cả không sợ thằng bù nhìn rơm ngáo ộp to đùng đang khua khoắng loạn xạ. Chim chóc còn không sợ bù nhìn thì đừng nói gì đến ma quỉ. Ma quỉ thời nay còn kết dính với bù nhìn tạo ra nhiều phép lạ bí truyền. Từ ngàn xưa đã vậy, chưa nói đến kì loạn thế.

Lũ chim ri, chim sẻ ríu rít ầm ĩ trên mái ngói, không thích ra ruộng. Chim cắt và diều hâu dang cánh vòng vòng trên mây, tưởng cao siêu vô hại nhưng sơ ý tích tắc là xong mấy con gà con. Chỉ có bìm bịp và cuốc thinh thoảng thấy nhoáng một cánh chim nâu vù qua ruộng lúa rồi biến mất trong bụi đình đình hay bờ ruộng, đố ai biết nó ở đâu, vừa giống hiệp khách, vừa giống đạo chích.

Đôi khi nghe tiếng bìm bịp kêu thảng thốt ngoài bãi càng lúc nghe càng xa vắng. Tiếng cuốc chỉ nghe vào mùa hè, nghe thê lương nẫu ruột, suốt đêm khắc khoải ngoài bờ ruộng rất gần nhưng chẳng ai nhìn thấy nó. Người lớn bảo chim cuốc kêu thiết tha như tiếc nuối cho đến khi rỉ máu mà chết nhưng tôi chưa tìm được xác nó bao giờ. Chỉ thấy người nghe tiếng cuốc hao mòn khắc khoải thâu đêm mà rỉ máu với chim.

Đó là những con chim hiệp khách, thấp thoáng xa xôi gợi sự lãng du mây gió. À thêm một loài chim như vậy nữa, đó là chim giang giang. Khi mùa hè qua, bầu trời dịu lại, bàng bạc màu mây, thì đàn chim giang giang nối cánh nhau thành hình chữ V, mờ mờ bàng bạc lẫn với mây, bay qua sông Mơ về phía mặt trời lặn. Lúc lúc lại thấy một đàn bay qua sông, cứ theo hình chữ V thế, bay mải miết như mây bay. Không biết chúng bay về đâu, hay bay đến chỗ mặt trời lặn thật.

Còn những loài chim khác chỉ là loài chim phàm tục. Cú hễ mở miệng ra là bị xua đuổi, ban ngày ngủ gà ngủ gật trên cây chay, lặng lẽ, ẩn dật. Bọn ác là, quạ đen đánh nhau liên tục, chao chác ồn ào, rất lắm lời mà lời lẽ thô tục, đậu đầy cây gạo, làm tổ tít trên ngọn gạo, cao tít tắp, nhìn mà phát khiếp. Đỡ chán hơn là bọn chào mào, sáo sậu, chèo bẻo, bói cá, bách thanh, cũng có khi ồn ào, coi thường cả chú bù nhìn bặm trợn nhất thế gian nhưng cũng có khi chúng biết dịu dàng, con bè trầm líu lo chỉ nhường một con lĩnh xướng cao vút lanh lảnh.

Và bao giờ cái dàn đại hợp xướng kia cũng chỉ diễn ra buổi sáng khi ánh nắng mặt trời chiếu nhẹ qua rặng tre dày đổ bóng xuống nửa vườn ngô vừa lên được ba lá và gió thì như ngừng hẳn, thổi qua vùng khác. Buổi chiều thì chúng biến đi đâu sạch, không còn bóng chim tăm cá. Em gái tôi hay hát:

Chim ri mệt mỏi ở nhà

Sáo sậu trong tổ nhảy ra chia phần

Bìm bịp thì đánh trống quân

Chim chích mặc quần đánh mõ theo sau.

À, hay là thế nhỉ? Đâu phải vô tư líu lo ca hát suốt ngày được?


TRÀN HUY QUANG

  KÍNH   BÁO Chủ nhân trang blog Bị ốm. Vì Vậy trang NgườiLàngCốm.BlogSpot xin tạm đóng cửa. Xin kính báo cùng toàn thể Độc giả xa gần !!!  ...